Đọc tiếp XÓM CỤT Của Đỗ Thành(chương 11,12,13,14 và 15)

Hai anh em ghé nhà vợ chồng ông thương binh về hưu thăm hỏi sau khi hết việc. Dường như lâu ngày ông cũng đang thiếu một người bạn nên trông thấy chúng tôi là vồ vập ngay. Bà vợ cũng lăng xăng, thật tình như đón khách.

Sau vài câu qua loa thăm hỏi, ông thương binh quay qua lần lượt nói với hai anh em : chú này (ý nói anh thợ sửa xe) tôi biết đã lâu, dù chưa có dịp tận mặt han hỏi. Rồi quay sang tôi, ông nói rất thân tình : còn ông mới về, tôi cũng dặn lòng hôm nào sang làm quen.

Để khỏa lấp sự ngượng nghịu cho cả hai bên, ông toang toang nói luôn : ấy, chiến tranh đào sâu hầm hố với nhau như thế, giờ hòa bình rồi mà vẫn khó lấp kín lại những cách biệt. Hồi xưa, bất đắc dĩ chúng ta phải ghim đầu nhau giữa hai trận tuyến, nếu không, khó ai giữ vững được mạng sống của mình. Cũng may, cả ông lẫn tôi còn sống sót lại được, nhưng bao nhiêu lần lá xanh đã thi nhau rụng nhiều. Lá vàng như bọn mình hóa ra thành chứng tích của nỗi buồn đất nước. Biết bao giờ, mọi người được thảnh thơi, ông nhỉ.

Tôi nghe quặn thắt trong tim, nhưng nỗi e dè lớn quá khiến tôi không muốn bặp ngay vào những sự thể tế nhị. Tôi khề khà cốt đánh trống lảng cho qua, nhưng trong thâm tâm tôi nghĩ tại định kiến làm cho người ta càng phải buộc lòng ngăn cách. Thí dụ như ngay lúc này người chiến thắng đối xử lịch thiệp với kẻ bị thua thì tôi e hóa ra cái chính nghĩa được nhân danh để xua nhau thành thù địch là ngớ ngẩn hay sao.

Có lẽ, ông thương binh đoán ra được chỗ lắt léo tâm tư của tôi nên vội xuề xòa quay sang hướng khác : được ông đến chia xẻ với gia đình, thật không gì quí hóa bằng. Vợ chồng tôi xin cám ơn hai người và mong thời gian sẽ là liều thuốc bổ để ta xóa đi cái ranh giới ké né.

Sau một hồi xã giao vô thưởng vô phạt, chúng tôi chia tay. Anh thợ sửa xe tẩm ngẩm tầm ngầm nhìn tôi, nhưng không hề đả động một lời. Tôi về nhà, vợ và các con đang tíu tít vì bữa cơm dọn sẵn. Vẫn là những cục bột sắn đun sôi trộn với gạo thành bữa, những bữa ăn cốt để sống chứ không dám màng đến chất dinh dưỡng ra sao.

Người ta vẫn kháo nỗi khó khăn còn lớn quá, ta giờ cốt có cái ăn đã, rồi dần dần sẽ tính tới ăn ngon, ăn bổ và mặc đẹp. Câu này dường như người ta rêu rao đã từ lâu rồi, sao vẫn chỉ là ước mơ, hoài vọng.

Phải chăng thời thế cố tình tạo ra như thế để mãi mãi con người có cái đích mà đấu tranh lăn xả. Nếu không thì ai cũng ngủ quên trên chiến thắng, lơ là trách nhiệm cố tạo ra cho được một thế giới đại đồng. Người ta cứ luôn nhắc với nhau : bây giờ ta tạm làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, một mai nào đó ta sẽ tiến đến chỗ làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.

Ôi, chân lý nghe thật vô vàn quyến rũ, nhưng một mai là bao giờ, chịu, chẳng ai giải thích được. Trải qua gần 20 năm kẹt lại quê nhà, tôi thường vẩn vơ tự hỏi chỉ riêng với mình như thế mà không sao tìm ra lời giải đáp.

Tôi như con ốc bơ vơ nằm trên cát một mình. Những sóng nước triều mạnh bạo tràn lên vùi sâu thân ốc vào cát. Ngoi mãi mới trồi lên được, lấm lem, lạo xạo những hạt sạn cứa vào da thịt đau rần, chưa kịp hít chút không khí lại bị một làn sóng triều khác dồi vào làm lao đao nghiêng ngửa.

Tôi nghĩ mà buồn cho thân phận những kẻ hẩm hiu chúng tôi. Giờ đây, thượng cấp, bạn bè và những người may mắn mấy ai lẩm nhẩm đếm xem còn bao nhiêu đồng đội bị sót lại. Hay là những cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm, những vinh hoa phú quí đã xóa sạch sành sanh hình ảnh những người đã một thời cùng sống cùng chết với mình.

Có khi các vị, các ngài ấy còn cười mủi tự khen sự thức thời, nhanh chân của họ để rồi mỉa mại, chê trách bọn chúng tôi chậm đụt phải đem thân làm kiếp khổ sai. Kinh nghiệm những năm thắc thỏm vì tiếng kẻng giữa rừng già u tịch, vội lồm cồm thức dậy cụ bị cuốc xẻng đi lao động, khát đói triền miên, đau không có thuốc, vợ con không thăm, mà thấy lòng ức đau vô hạn.

Tôi không đến nỗi cực đoan thề không bao giờ chịu ra đi, nhưng quả lòng hận các vị đem con bỏ chợ thì chắc là có. Tôi nuôi ý chí một ngày nào được gặp lại những bộ mặt câng câng trơ trẽn đó để chỉ xin được thưa thớt một điều : xin các bố bớt phét lác đi, chúng con đã lỡ một lần bị các bố đánh lừa nên thất điên bát đảo, vợ con có đứa đã bỏ mặc để đi lấy kẻ giam hãm chồng mình. Chỉ thế thôi, không hề mang thù mang oán.

Đã bao lần đối mặt mình với mình, nằm nghe cái sâu lắng mênh mông và cảnh vợ con nheo nhóc ngủ vờ ngủ vật, áo hở vai còm, tôi đã tự dằn vặt tôi : đây có phải mình đang sống chính trên quê hương. Tôi hoàn toàn bơ vơ, lạc lõng, lắm lúc nghĩ mình sắp điên đến nơi.

Nhìn những chuyên viên khách các nước anh em một dạo và sau này là những đoàn du khách các nước ào ạt ghé quê nhà, tôi càng có cảm tưởng mình bị vong thân tàn nhẫn. Khách thân mật hỏi thăm mà chính mình ú ớ không dám tiếp xúc vì sợ những con mắt tị hiềm nào đó theo dõi cho là mình còn mơ đến ngoại bang này khác.

Có đời thuở nào mà một con người phải nép mình chịu đựng đến vậy chăng ? Người ta tự đánh lừa tự ví : ngày xưa Câu Tiễn… để tự ủi an và còn một chút can đảm mà sống, chứ ai cũng biết rằng mình đã tự lừa dối mình.

Người vợ thân yêu của tôi đã bao lần trong đêm rúc vào người tôi bật khóc. Bởi vì lúc chiều nghe con than không được theo học chuyên ban, nỗi xót thương của bà mẹ đã khiến cô không kịp giữ lời chì chiết chồng : tại ông mà con cái không ngóc đầu lên nổi.

Ôi, lý lịch, hai chữ đơn sơ mà nặng ngàn cân với một con người. Nó là một bản án không tuyên nhưng sẽ không bao giờ gột sạch. Nó đeo đẳng từng số kiếp đoạn trường trải 3 đời liên tiếp thông nhau.

Bây giờ, trong nghĩa tình chồng vợ, nàng nấc lên xin tôi tha thứ. Hai vợ chồng như hai xác mắm khô rã rời bị vắt kiệt nước, đến yêu đương cũng đã tắt lặn từ lâu, nhưng nước mắt thì lúc nào cũng dư để rửa cho nhau nỗi buồn cắt ruột.

Tôi đã bao lần cám ơn đời, cám ơn người, những người cùng chung số phận nhưng còn biết can ngăn vợ tôi đừng làm chết đuối thêm tâm hồn một người thất thế. Lới chân tình, đậm đà đạo đức của ai đó đã khiến tôi còn nhen nhúm một chút tin tưởng trong tâm.

Người bạn đã khuyên can vợ tôi :chị không nên làm khổ thêm anh ấy nữa. Vợ chồng có lúc vui lúc buồn, ngày trước chị đã chẳng cùng anh trải một thời hoan lạc thì nay đừng vì dĩ vãng mà đẩy anh đến chỗ buồn đau. Sông có khúc, người có lúc, lẽ đâu cứ phải chịu sống mãi thế này.

Ôi ! Những lời nói như cơn gió thoảng giữa trưa hè sôi bỏng, như ngụm nước được nhắp môi khi khát cháy buồng gan. Xin cám ơn đời, giúp cho tình người nở hoa giữa miền khô cằn sa mạc. Xin cám ơn người còn gieo cho nhau một lóe sáng trong đêm thẳm âm u.

Chỉ với bấy nhiêu, chẳng ai bảo ai, cả hai cũng cố nén những tiếng thổn thức để đám con đừng thức giấc vì nỗi niềm đắng cay của bố mẹ. Những giề bột được chia phiên nhau xay nhuyễn để khuya hôm tôi thức dậy nhúm lửa lay vợ dậy đổ bánh bò. Những nghề ngỗng học lóm nhau mạnh dạn đem ra thị trường làm cái cần câu con cá sặc mà sống ủ ấp lẫn nhau.

Những rổ bánh bò èo uộc nở và tịt theo thời tiết và chất lượng của bột vớ được. Thằng trai lớn và tôi thi nhau chạy long tóc gáy, giao cho các quán hàng, không vội nhận tiền để sẽ trở lại lấy khi sáng bạch. Những ngày mưa cũng như những ngày nắng, những hôm bão cùng những hôm lạnh se sắt cuối năm, cuộc đời lênh đênh theo mớ bánh bò bán được thì hí hửng, không bán được thì vợ chồng con cái nuốt thay cơm.

Có trải qua những thời thê lương như thế mới thấy đoạn trường tang thương ngẫu lục, mới thấy buốn cho cảnh “ sông kia rày đã nên đồng, chỗ thì nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai “, hay cám cảnh cho thân phận “ đêm nghe tiếng ếch bên tai, giật mình còn ngỡ tiếng ai gọi đò “.

Những năm tháng chết tiệt, mịt mờ, sâu hoắm như vết lở sâu quảng đục ruỗng tế bào rấm rứt đêm đêm.

Phần 12

Gần 20 năm sống với xóm Cụt, quả thật tôi mới nhận biết ra nỗi sợ là thế nào. Cho dù tôi đã cố gắng ví mình như đui mù, què sứt, điếc lác, tam tam thì nỗi sợ vẫn không tha. Vợ tôi thấy tội nghiệp cho tôi nên hết lời năn nỉ, khuyên can, dỗ dành hơn trẻ nít. Các con nhìn vẻ lì lì của tôi cũng nhận ra chính thân phận chúng mà ít dám lớn tiếng nói cười.

Chúng miệt mài lăn vào việc học, dù biết rằng chẳng để làm vương làm tướng gì, song có dăm chữ cũng đỡ hơn là dốt. Ngoài việc học, chúng bị sên vô các buổi lao động chùa, cơm nhà làm công lênh thiên hạ vẫn bị đánh giá là con cái kẻ hư thân. Chúng không ranh ma cũng hóa ranh ma, tập tõm học đòi chen chân chạy chợ. Con lớn đã biết chạy đôn chạy đáo dẫn hàng ăn hoa hồng, hoặc bắt mánh moi hàng từ các hiệu quốc doanh ra kiếm chút cháo.

Những đứa lèng xèng thì hùng hục với mẹ xay bột, đãi gạo, nấu ăn, nhồi bánh và gỡ bánh bò ra cho hai bố con tôi chạy. Tôi được ưu tiên hơn hết là cho đi ngủ sớm để khoảng 2 giờ thức dậy nhóm bếp và khua vợ con dậy đổ bánh bò. Lắm hôm ti toe định ghé bà xã tí ti thì nhận ngay bộ mặt lãnh đạm của bà đáp trả và hẹn hò nhau : anh chịu khó cực khổ ít lâu mà giữ sức.

Tôi nghe lênh láng nước muối đổ vào lòng. Dù ở tịt trong nhà mà tin tức gì không thiếu. Con bé lớn suốt ngày nhông nhông ngoài chợ nên có gì cũng biết, không thua cái loa thông tin của khóm kêu ông ổng từ sáng tới khuya. Có những tin nó loan còn nhanh lẹ, chắc ăn hơn là tin chính thức, từ loại tin xe cán chó đến tin chuyện thường ngày ở huyện.

Hôm thì nó kể : bữa nay có một chuyện thấy kỳ, tự dưng cái bà đứng mua sổ gạo ở cửa hàng lương thực bị tay công an còng đưa về đồn tẩn tra. Bà ta bị buộc tội ăn cắp sổ lương thực của nhà ông ấy nên đi đòn tán mạng. Đến khi được thả ra hết còn lết nổi chớ đừng nói là đi. Rồi nó hỏi tôi như đánh đố : ba biết rồi sau ra sao hôn ? Tôi mù tịt, nó thở phào như chê tôi cù lần và lẩm rẩm nói : thì huề chớ còn sao nữa. Nhà công an bố ai vào mà ăn cắp được sổ gạo, chẳng qua con em ổng thiếu tiền đi ăn chơi với bạn nên chôm sổ ra đưa cho bà. Tay buôn nào thấy lợi hổng ham nên trả tiền cho nhỏ, nào dè ông anh ra cửa hàng nghe nói bà ấy bà nọ mua rồi thì cứ quơ về tẩn cho đã, nếp tẻ gì sẽ hay. Nghe đâu, bữa sau trưởng đồn khệ nệ bê hộp sữa và tí tiền nhét phong bì vào tận nhà thương thăm vừa xin lỗi vừa hăm he nếu muốn còn làm ăn thì bãi tố. Thế là xong.

Tôi nghe chỉ còn biết thở dài. Mạng người thua con ngóe, có miệng mà câm, ai đời nào có thấu. Lại có bữa cũng con nhỏ xí xọn đó về mét : ba ơi bữa nay trường con vui lắm, có ông cán bộ vô lôi xềnh xệch bà cô mắng đã đời. Chẳng qua tại quí tử của ổng ham chơi hơn ham học bị cô rầy, nó về mét là cô nói “ con cán bộ mà ngu “. Chẳng cần biết đầu đuôi, ông đến tóm ngay cô la nhoi : mày nói ai ngu, ngu mà trị được cả lũ nhà mày. Tôi chẳng biết nói năng ra sao, chỉ còn lén nhìn con mà tự an ủi : thời buổi bây giờ như vậy đó.

Thằng tửng tôi có vẻ khôn ngoan hơn. Nó là bản sao của tâm tính tôi nên ít ăn, ít nói. Lời nào mà nói ra đều thật kinh khủng vô cùng, cho nên tôi tâm đắc coi nó là nguồn tin được xếp vào loại A1, tức là có cơ sở. Như cái vụ đánh tư sản, nó to nhỏ với tôi : con nghe phong phanh nhà nước ký một mảnh giấy sẵn, nội dung trắng tinh để ông phó vô Nam diệt mại bản.

Tôi nói với nó : mày đừng xạo, loại tin mật cỡ đó mà mày biết được, đúng là dóc tận mạng. Coi chừng bị gài ở tù đó nghe mày. Nó trâng trâng cãi lại tôi, ai dè chỉ vài hôm lảng vảng thấy đám thanh niên ở đâu lạ hoắc ngầu ngầu bổ về vây những nhà gọi là điểm. Và họ đánh thật, người ra vào ùng oàng, khiêng cơ man vải vóc, bị, gói và lỉnh kỉnh trăm thứ hà rầm khiến cho đối tượng mặt mày méo xệch, lơ láo như bị thiến. Tội nghiệp có người chỉ vì có nhà ngày trước cho mỹ hàn thuê hay ti toe bắt tay buôn với ông này bà nọ giờ bị dện cho cái mác : “ tư bản mại bản “ thiếu điều muốn bậy trong quần.

Đã hết đâu. Một bữa, thằng tửng còn hỏi nhóng tôi : ba nè, nhà nước sắp cho người Hoa ra đi, đóng 2 cây theo đầu người, ba tính kỳ này có theo hôn. Tôi nổi sùng thì ít mà nghĩ con ghẹo chọc thì nhiều, tôi đâm vặc : tao còn có mỗi củ khoai lận bụng, mày coi có ai mua thì bán để tao đi. Bà vợ tôi nghe cha con choảng nhau nạt thêm : mày không thương ba mày sao còn phá ổng để nhà cửa om sòm. Thằng tửng phụng phịu : thì con nghe góp ý, ba không có tiền thì thôi, sao ba nói nặng con.

Tía con tôi thường có những cơn nổi khùng như thế. Thiệt là điên chẳng ra điên mà tỉnh chẳng ra tỉnh. Những kẻ cùn đời chỉ cắn cấu nhau như chó chạy rông. Đầu tôi lúc nào cũng như bị búa bổ, lắm đêm ngủ mê còn nghe rõ tiếng “ cốc “ khô rang của trái dừa già bị ngọn rựa chém phập vào. Tôi ú ớ như bị ma đè khiến bà vợ phải lay tỉnh để rồi cứ nằm trợn trừng nghe cái âm u thông thống tràn dâng.

Nhiều lúc tôi thở than với vợ : bà này, đời mình cực quá, còn cố nuôi bọn nhóc đi học làm chi. Vợ tôi giận quắc mắt nhìn tôi hỏi vặn : không cho đi học để ở nhà đi lao động dài dài à. Tôi như con cuốn chiếu bị đạp nhăn nheo, vừa được thả chưn ra thì quán tính lại khiến co vòi vón cục lại. Vợ thấy tôi tiu nghỉu thì mềm lòng, ngao ngán trách nhẹ tôi : tui đã muốn điên cái đầu, ông còn muốn khêu lên để vợ chồng cẳng rẳng nhau chi nữa hổng biết. Những câu nói như ngọn lao phóng đi, trúng trật đâu chưa biết mà sao cánh tay bị lọi cảm thấy rã rời.

Có lúc tẩn mẩn tôi ngồi nghĩ một mình mà ví cái tên Xóm Cụt thực cũng không khác gì nỗi bơ vơ cụt ngủn đời tôi. Tuy nhiên có một điều tôi ghim trong bụng mà không hé ra, dù ngay cả với vợ con, là việc tôi lẩn thẩn đièu nghiên và phân chia thời thế ra thành nhiều giai đoạn. Hẳn nhiên, đây hoàn toàn là chủ quan nhận định của tôi và có thể là trật lấc nên nói ra chi để bị chê cười.

Theo tôi, lấy dấu mốc 75 làm tiêu điểm thì đại khái cuộc diện đã, đang và sẽ trải qua những chặng đường như sau. Thời gian đầu là thời gian xóa sạch, xóa từ tên gọi, cung cách đến cảm nghĩ, lý luận nhỏ hay to. Kế tiếp là thời gian bứng gốc nên hễ thứ gì dây dưa với cũ là tháo bằng hết, kể cả nguồn gốc, nhà cửa, xe cộ và luôn con người. Chặng ba là sàng xẩy, chỉ cho phép lưu lại những gì hợp và cần thôi.

Sau khi đã rửa sạch tay thì lúc ấy mới bắt đầu thời hãnh tiến. Cho nên, những ngày tháng tôi về Xóm Cụt có thể đang ở vào cuối giai đoạn 1 sang đầu giai đoạn 2 nên đời tôi có lao đao lận đận cùng là thường tình của nhân thế.

Cũng may là tôi còn được gá tí ti vào cái mác có người nhà không dính dáng gì đến giặc, cho dù đó chỉ là thứ cà nông bắn xa cũng không tới, thế nhưng có còn hơn không. Chính người nhà tôi đã rỉ tai bao lần : chú đừng dại mà bỏ thành phố, tiêu tùng là cái chắc. Tôi xin cám ơn lời dạy khôn dạy khéo cho tôi. Cho nên hễ rục rịch nghe thằng tửng tôi nói : ba ơi tuần sau lại bình bầu đi kinh tế mới là tôi vội sấp ngửa tìm cách vọt. Tôi vơ quàng vơ bậy bất cứ cái cọc khô nào, thậm chí biết rõ mười mươi đi làm sẽ chẳng có đồng lương mang về, tôi cũng nhào đầu theo hơn là bị dính chấu.

Có kỳ tôi đã lặn lội lên tận Bù Đăng, Bù Đốp làm thợ vịn cho các công trình xây dựng. Lão chủ thầu khai danh sách toàn thợ xịn mà chính thực là lợi dụng bọn tôi làm thợ xây, thợ mộc chí chát. Lão móc nối được trưởng phòng xây dựng nên tường có cong, cửa có lệch vẫn được nghiệm thu và thanh toán đàng hoàng.

Tiền đó lão chủ chi vào đãi đằng khắp lượt từ kỹ thuật đến tài vu, ngân hàng hay o một cô nào đi miết, chỉ cần quẳng bao gạo cho công nhân ì ọp nấu ăn, thức ăn là bứt trộm hoa bầu hoa bí hay chung nhau mà mua tí lạc về giã ăn dần. Thế nên, bọn tôi có thằng đi kiết lòi dom cũng cố mà làm hay quơ bậy mấy cái lá mơ, la thúi địt nhá nuốt mà làm tiếp.

Ôi, những ngày tháng dìm thân nơi rừng già, chiến tuyến cũ. Đêm nghe mênh mang đồng đội cũ về kêu đói xin ăn. Thằng đói nhường người chết đói hơn, bọn tôi giữa khuya cũng lo ki cóp chạy xin nắm nhang của bà con gần đó làm chút hương ủ ấp truy niệm những người chết trận ngày nào. Tự dưng thấy buồn và thương cho những người lạc lõng bơ vơ, trong khi các quan to “ giờ này ông ở đâu “, liệu có biết cơ man dọc dài đất nước những người một thời đã đắng cay nằm xuống để quí ông vênh vang bán đất, bán nhà, đợ vợ, buôn con, buôn cả xì ke, đĩ điếm và choảng nhau liên tục vì cái chỗ.

Bây giờ rừng già tuy xanh cỏ, nhưng oan hồn tức tưởi vẫn chưa được siêu thoát thênh thang. Thản hoặc, trong khi đào móng, anh em chúng tôi vẫn cuốc nhằm những lóng xương lổn nhổn, vôi vàng thu nhặt rửa sạch và tìm cái bao cát ni lông ngày xưa làm nơi trấn thủ để gói ghém mà vùi nông anh em một tấc, tiễn nhau trong cảnh ngậm ngùi, sau khi đã xì xụp khấn phù hộ cho nhau để công trình xong tươm tất.

Thời gian đó, nào ai còn biết Giáng Sinh hay Phật Đản là gì. Chỉ còn nghe tiếng rế và tiếng côn trùng thi nhau rỉ rả gáy và bóng đom đóm lập lòe như ma trơi đang diễn binh giữa bóng tối triền miên.

Phần 13

Có một dạo đi đến đâu cũng nghe mọi người trong nước than bị bệnh ghẻ xâm nhập vào mình. Đây không phải là những nốt ghẻ mọc ở những nơi bình thường mà ranh ma chỉ tìm các kẽ ngón tay, khoeo đầu gối, dưới nách hay quanh bẹn mà tấn công. Ngặt thêm đây còn thuộc loại ghẻ mủ, gây đau nhức, nên trông ai cũng nhăn nhó, khệnh khạng như anh mang bệnh lậu.

Có người cứ phải luôn luôn xòe các ngón tay ra vì nếu kẹp lại bình thường thì các nốt ghẻ cấn cái làm cho khó chịu. Bực nhất là ai bị ghẻ ở quanh bẹn thì chẳng khác người nổi hột xoài, đi lênh khênh như người mang bệnh kín.

Không ai biết xuất xứ căn bệnh từ đâu đến mà đồng loạt ai cũng ít nhiều đều bị. Người thì nói là tại các bộ đội đem từ Bắc vào, kẻ lại bảo là tại ăn loại sắn Ấn Độ dài ngày nên sinh ra mụn nhọt.

Người ta còn giảng rành rẽ giống sắn này bên Ấn chỉ dùng để nuôi súc vật, bây giờ trở thành món ăn chiến lược của toàn dân nên gây ra tai họa. Họ kháo nhau cứ thử ngâm sắn trong nước một ngày đêm sẽ thấy bốc mùi thối khăm khẳm, hắt đổ ra quanh đó thì cỏ dại gì cũng thối rễ mà gục hết.

Vậy mà có giai đoạn cả miền Nam đều phải nhận phần sắn chủ lực này làm trọng lượng lương thực thay gạo. Còn mì sợi, khoai hay các thứ có chút ít dinh dưỡng hơn chỉ ưu tiên dành cho cán bộ, công nhân viên hay gia đình có công mới được hưởng chế độ đặc biệt.

Tội nghiệp mấy nhóc của tôi chẳng đứa nào thoát khỏi những mụn mủ mọc như đơm hoa trên thân, lâu lâu mủ vỡ ra gây nhức nhối, nặng mùi, rên như đạp phải đinh hay ăn phải mật gấu.

Dạo đó, phòng khám y tế đông như kiến, ai cũng kè rè đem tay chân đến xin khám và nài xin thuốc. Cũng chỉ mấy viên xuân tâm liên kèm lơ thơ mấy hạt B1 gì đó là hết. Do muốn chóng được trị lành bệnh để còn đi lao động kiếm cơm nên ai cũng nài nỉ tuyến phường chuyển lên bệnh viện da liễu thì xem như hạn chờ mưa, không được để tâm đến.

Tôi có nghe lao xao những lời đồn không khống này nhưng chỉ dám nửa tin, nửa ngờ vì không có chứng cớ chính xác. Chẳng hạn ở Xóm Cụt chỉ duy nhất có anh thợ sửa xe và gia đình tôi là bị nạn, còn ông bà thương binh và nhà bán máy thì vẫn dửng dưng. Con bé ngồi chợ về lăng xăng lít xít kêu rùm cả chợ ai cũng co tay, nhón cẳng, thấy mà ớn.

Thằng tửng tôi thì rên rẩm suốt ngày, thở dài sườn sượt, bung xung như chó tháng bảy. Đôi khi bực mình tôi khẹc nó : mày cho là tại tao mà mày sinh ra ghẻ phỏng. Rồi tôi khua vung vít tay chân, nhảy choi choi như đứng ở tổ kiến. Nó sợ nên chỉ thút thít khóc. Thét rồi nó hết dám than vãn với tôi, gặp đâu cũng thấy mặt nó nhăn nhó như cái bị rách, nhưng với mẹ thì nó tỉ tê suốt ngày.

Một đêm tôi đã nghe bà xã rụt rè nói với tôi : ông à, thằng Tửng bảo nghe nói vì chất sắn lưu cữu làm cho khó thẩm thấu được nên sinh ghẻ. Nó còn nói thêm nhiều nhà đã thử ăn một bữa nấu toàn gạo là thấy ghẻ bay đi cả. Tôi nghe như huyền thoại, nhưng ở cái thời buổi chỉ tiêu mỗi tháng có 3 cân gạo/người mà nó đòi có một bữa không ăn độn thì họa nó là con vua, cháu chúa hay là ông “ cán bộ con “ mới có.

Tuy nhiên, lòng thương con vẫn dâng tràn trong tôi, ngặt cái tôi cũng lúng túng chẳng biết giải quyết làm sao nên giả tảng đã ngủ quay cu lơ rồi. Tôi nghe bà xã than : người gì dễ ngáo, mới đó mà đã hò kéo gỗ ngay được. Thế là mẹ mẹ con con rủ rỉ bàn với nhau sao đó, tôi thấy con bé nhà tôi chạy liên chi hồ điệp ở chợ và một chiều dù trời chưa đẹp, nắng chưa trong, con bé khệ nệ bê về một túm đủ thứ và khoe um nhà : bữa nay nhà ta liên hoan lớn.

Tội nghiệp, con bé chạy sấp chạy ngửa để có được đồng tiền, rồi lại nịnh khéo nịnh khôn để mua được tí gạo ngoài chỉ tiêu, nó đãi cả nhà một bữa cơm trắng đàng hoàng. Những hạt gạo thơm tho (do tưởng tượng để đời còn thấy lên hương tí xíu) làm cả nhà ăn mà muốn chảy nước mắt, thằng Tửng xem ra hí hửng nhất.

Mà lạ, chỉ ăn duy nhất có một tối, hôm sau đã nhìn nó có vẻ thong dong. Nó chìa hai bàn tay như các cụ ta xòe đủ 5 ngón ngay ngắn khi ngồi chụp ảnh và trịnh trọng nói với tôi : bố này, các mụn hết cương mủ rồi.

Tôi nghe mùng thì ít mà thấy xót dạ thì nhiều. Có đời thủa nào đến bệnh cũng chỉ cần được ăn một bữa tầm thường mà hết chóng vánh như thế. Tôi ngẫm ra hay vì tại thiếu quá nhiều chất cám mà da trở nên bì bì, dễ bị nhiễm khuẩn cũng nên chăng.

Tôi đem kinh nghiệm này phổ biến với ân nhân truyền nghề bơm xe cho tôi, anh bạn vội đánh bạo chi tiền làm một bữa thì con ghẻ của anh cũng vội dông đi hết. Tôi khôi hài gọi đoạn đường trải qua thời gian đó là “ con đường khốn khổ “, y như tựa đề một tập truyện dịch từ nhà văn Liên Xô rất lưu truyền dạo ấy.

Những ngày ở Xóm Cụt còn để vương lại nơi tôi nhiều kỷ niệm vừa ngộ nghĩnh, vừa đau lòng như vậy. Tôi nghĩ suốt đời sẽ không sao quên được, cho dù sau này tôi có được sống một cuộc sống tươm tất hơn, hay cho dù có được đổi thay bằng một thời hoan hỉ đến mấy thì chắc không sao xóa hết những thời gian khốn khỗ này.

Tôi sống bằng nghề bơm bánh xe và trộn lẫn với những kỳ đi chu du làm thợ vịn mất đến sáu năm hơn. Những cuộc chạy chính sách bất đắc dĩ khiến tôi biết nhiều vùng đèo heo hút gió. Ngày còn ở quân ngũ, tôi đã từng biết Kontum, Thiện Giáo, Quảng Đức, Daksong, nhưng so với những địa danh sau này thì vẫn còn “ văn minh “ hơn nhiều.

Bây giờ thì chuyện nằm ngủ trên đống gạch chờ xây chất cao giữa trời, đêm vẫn còn âm ỉ tỏa sức nóng và gần sáng thì nhoáng nhoàng chạy vì sương phủ toát là chuyện cơm bữa. Còn cảnh bị đem bỏ chợ, ăn uống cực thiếu dinh dưỡng, sinh kiết lỵ, đổ máu cam hay làm mà tay run, lương bị quịt, thì chẳng còn lạ lẫm gì.

Ai chê dại tôi xin chịu, bởi vì khôn gì ở thời buổi lúc bấy giờ. Dại mà còn bám được thành phố thì cũng hơn khôn mà đem thân giam vào kinh tế mới, để bị hành suốt từ hèn đến sang. Có thấy mấy tay du kích lúc nào cũng khinh khỉnh hăm he, mới thấy dù gì cực ở phố hơn là sướng ở thôn.

Tôi đã bao lần bị mấy nhóc cỡ tuổi con cháu mình, mỉa mai, hoạnh họe, nói xóc óc mà cứ một điều thưa anh, hai điều thưa anh rối rít. Điều này tôi cóc dám nói lại với vợ con để khỏi thấy họ buồn lây, ích gì.

Hòa bình đến, địa bàn gom chung rồi lại giãn ra, lúc gộp thì gộp hằng hai ba tỉnh thành một, chừng bát nháo đòi tách chia thì lại xoèn xoẹt làm ngay. Bởi mỗi lần thay đổi cơ chế hành chánh là một lần dựng xây vô tội vạ.

Rừng bắt đầu được hạ một cách phóng túng, gỗ mặc sức xẻ lềnh khênh, công trình sử dụng một thì đám kên kên bu vô ăn có gấp hai ba. Có những cây lâu năm vòng ôm hằng ba bốn người nắm tay nhau không giáp kín, vậy mà thi nhau hạ để làm ván bìa dựng vách.

Những hôm mưa đã nghe gió thịnh nộ giông cuồng. Những con nước nguồn đã từ rừng băng băng đổ xuôi, gây lụt lội triền miên khi mưa đến. Người đông, của khó, ý thức bảo vệ nguồn tài sản sơn lâm xem nhẹ chẳng ai nghe, cuộc sống cơ cực khiến ai cũng sẵn của thiên nhiên hùa nhau làm thịt.

Bằng lăng, cà te, gõ, cây cày, hương, trắc, người biết hay chẳng biết đều đua nhau chặt đốt than lậu tít trên triền núi cao và ban đêm chuyển đi bán lén lút. Kiểm lâm có ngăn chặn thì hoặc là được dấm dúi chi tiền, hoặc bơ vơ sợ ăn đòn nên lơ là hay thỏa hiệp cho xong.

Những năm đó, người đi tìm trầm hương, cây gió cũng nhiều. Phần lớn là các anh em quân nhân cũ, ai cũng nghĩ làm vài chuyến may ra vớ được của trời, nhưng lắm người đi mà chẳng thấy về, tin đồn bị cọp, beo sơi thịt ở đâu đó.

Phần 14

Gia đình ông chú ở rìa ngoài thị trấn cách tôi chừng nửa giờ đạp xe (sau biến cố 75, ai cũng lấy đơn vị xe đạp làm thước đo đường trường vì ngoài xe đạp thì chẳng còn loại phương tiện nào khác, hoặc nếu có thì cũng phủ chăn đậy cất vì không mua được xăng, hoặc đem phát mãi cho cánh cán bộ chập chững từ Bắc vào, rất thích con Hon Đa của đế quốc). Ông chú thuôc bên nội là đồng tông với bố tôi. Ông chỉ có mỗi một mụn con trai còn thì toàn bốn cô gái. Anh trưởng này hên là có tật ở bàn tay phải từ ngày bé nên suốt thời gian chiến tranh chẳng phải lo lính tráng hay bị cảnh sát hỏi thăm sức khỏe đưa vào trung tâm nhập ngũ gì cả.

Trong số các con gái, có cô thứ ba đã từng đi làm công chức quốc phòng, làng nhàng cũng chỉ sắp giấy tờ vào hồ sơ. Cho nên phải nói là lý lịch cả nhà ông chú rất sạch, lại nữa ông cũng có một thời đi núi và bị bắt sao đó.

Sau này biết tôi là lính tráng, ông luôn than van chính tôi đã bắt ông. Tôi giải thích hết lời, tôi là quân đội ngành chuyên môn kỹ thuật thì làm sao nhúng vào nhiệm vụ bắt thường dân như cảnh sát được, nhưng ông nhất quyết nhớ là không sai, nên tôi cũng im cho xong.

Cô con gái của ông do tôi giới thiệu vào một cơ quan bạn, còn các vách tường nhà ông cũng do tôi xin bạn bè các thùng lớn đựng quân nhu viện trợ nên ván ép thuộc loại dày có thể chịu đựng mưa gió, rét mướt suốt từ bao lâu nay.

Vậy mà đùng cái, gia đình ông dắt díu đi xây dựng nông thôn mới ngay đợt đầu. Tôi nghĩ giá ông và các em có trụ lại cũng nào ai thèm rớ tới, vì nhà ông lụp xụp núp sau xa một ngôi nhà to dựa quốc lộ, muốn ra vào phải đi nhờ một lối mòn băng qua vườn nhà chủ. Tôi đem thắc mắc này hỏi chú thì ông thành thật kể với tôi : bạn bè kháng chiến xưa am tường về gặp đều báo với ông chính sách giãn dân. Theo các ông bạn thì trước sau dân sở tại cũng sẽ bị bứng đi hết vì đất đai quanh vùng chỉ dành cho cán bộ, viên chức nên khuyên chú tôi đi sớm còn được chọn vùng gần gần.

Vậy là gia linh ông chú com cóp đìu bòng nhau vào một thôn dưới chân núi cách đó hơn 1 giờ đạp xe nữa. Khi dọn dời thì tôi còn đang theo học làm con người mới chưa tốt nghiệp xong, mãi khi về sau gần cả năm chui rúc trong nhà, tôi lóc cóc đạp xe đi thăm thì thấy nhà cửa ông chú vẫn tuềnh toàng chưa ra cơ ngơi gì cả.

Dạo đó, khối người ở quanh tôi hăm hở kéo về làm dân ở đây vì nghĩ dù sao cũng còn gần thành phố một chút. Ông chú chỉ trỏ nhà này cho biết mới đi tù về, nhà kia vốn là dân buôn cũ ở phố. Tôi có hỏi sao khi đi không dọn theo mớ ván ép để đến đây có sẵn dùng thì ông chú nói nghe họ trả giá hời bán quách cho đỡ nặng.

Lên ở chỗ mới, anh con trưởng trần thân đi chặt cây làm cột, kèo, rui, mè và đi cắt lá kè về lợp che làm mái, chả thấy than tay bị tật hay đơ gì sất. Còn các cô con gái xoay nhau mở đủ nghề, người đúc bánh căng, người làm bánh bò, lại còn xoay vần việc nhà nông vì bị bắt buộc gia nhập hợp tác xã nông nghiệp. Chính kỹ nghệ bánh bò gia đình tôi lấy làm kế sinh nhai cũng do được từ các em chuyền chỉ cho. Vì học vội học vàng nên thường bị bột vật cho trần thân khổ ải, bữa nở, bữa chai, bừa lì, bữa lịt. Cũng may dạo đó, người đông của hiếm nên trời thương cũng cho lây lất qua truông.

Thời buổi đó, ông Võ Tòng Xuân cổ vũ đưa giống lúa nổi về trồng thử nên khắp nước đều đua nhau gieo và thu. Ngặt cái, đất đai phần mới giỡ, phần bỏ hoang hóa lâu năm, nay cả nước mở phong trào, đòi hỏi phải tốn nhiều phân, thuốc mới có kết quả. Mọi dịch vụ cung cấp sản phẩm phục vụ cho nghề nông đều nằm trong tay nhà nước nên giá cả, điều lệnh ra sao đều do họ qui định hết, dân nông chỉ có è cổ ra chịu.

Lại thêm chế độ công lênh theo kiểu “ cha chung không ai khóc “ nên làm chăng hay chớ, trốn lỉnh là nhiều, nợ tràn đìa lây lất, trả mùa này sang mùa khác vẫn không đủ. Gặp kỳ đến thăm chú đúng vào hôm thu hoạch, cả thôn tấp nập khuân chuyển thóc rơm ra nộp cho hợp tác buổi tối. Tiếng đong đếm rào rào, tiếng bàn tán xôn xao, cấp bộ kiểm tra xong cho lệnh ủ che, sợ hớt hao hay bị mưa thóc úng mục, thế là bà con mượn cơ hội giới chức đã đi, lén nhau hốt trộm đem thót về nhà. Vì bụng đói quá, làm việc nhiều mà công chấm ít nên nông dân liều lĩnh làm bậy.

Đến khi nhiều nơi tự phát âm thầm cho nông dân nhận khoán thì chẳng cần kẻng báo, loa giục họ cũng tự động hăng hái ra đồng. Khởi xướng từ miền Nam, nhưng một là phải im hơi kín tiếng, hai là có tranh đoạt danh hiệu cũng chẳng được (công đầu bao giờ cũng thuộc về miền Bắc ưu việt đã), nên hiên tượng Thái Bình quê hương 5 tấn mới được báo đài ông ổng ca vang.

Trước nhà nước còn hăm he là nông dân làm chưa có lệnh của lãnh đạo, nhưng rồi thành quả như con nước vỡ bờ cuốn hút theo mọi ì xèo để thành khoán 10, kể công tài ba của cấp lãnh đạo với cả nước.

Giai đoạn bình bầu đi kinh tế mới xoành xoạch như cơm bữa, cô em thứ ba thỉnh thoảng có ghé xuống thăm xem tình hình gia đình tôi ra sao. Bọn nhóc được cô cho dăm tá bánh tráng ngọt thì thi nhau nhá chóp chép có vẻ khoái chí. Nghe vợ tôi tỏ nỗi lo có thể bị bứng thì cô em đề nghị hay là tôi “ di tản chiến thuật “ lên chỗ ông chú ít lâu, khi nào tan việc cắt cử lại về.

Kể ra bất cứ xã hội nào cũng khó lấp hết các kẽ hở, chứ nếu không thì ai thoát cho nổi. Dù đang bù đầu bù óc với lo lắng bất an, tôi cũng phải phì cười vì câu “ di tản chiến thuật “ của cô em. Nó nhắc với tôi một thời từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4-1975 mà bao người phải cười đau khóc hận vì mệnh nước.

Chính quyền có thể làm bất cứ chuyện gì, nhưng không sao lấy thúng úp voi cho nổi. Việc phân chia phường này phường nọ, chỉ cần từ bên này đường tếch sang bên kia đường là hai bên đương sự đã có thể nghinh nhìn nhau chẳng sợ chi. Cũng nhờ chỗ lắt léo này mà dân miền Nam mới lập mánh sống và thoát. Những người buôn chạy biết thân phận họ nên chẳng khi nào chịu mở cửa hiệu hay lập chỗ bán hẳn hoi.

Chị bán thuốc lẻ chỉ cần dùng các tút không bỏ lơ thơ dăm bao thuốc xé lẻ hay mấy bó thuốc quấn, nhưng ai hỏi bất cứ gì cũng có, từ số điếu đến cả bao. Lăn lóc các vỉa hè, lề đường ta thấy bày các chai không hiền từ, nhưng ai cũng hiểu muốn mua xăng là có, dù lúc ấy xăng chỉ bán theo giấy giới thiệu hay phiếu mua và thường chỉ hàng cán bộ hay công nhân viên mới có tiêu chuẩn.

Phương chi nếu tôi chọn đi lánh nạn chiến thuật chỗ ông chú thì ai biết đâu mà mò. Nhưng tôi không chọn giải pháp đó vì vẫn còn tạo bấp bênh cho vợ con và chính tôi cũng bị ghép vào lỗi đi không khai báo. Cho nên, tôi chọn lối chắc ăn hơn là xung phong vào các đội xây dựng làm việc cho nhà nước để cốt có cái giấy chứng minh thư công nhân quèn, công nhân vịn mà có nộp cho ban bầu chọn là xong. Sau này khi tôi đã tập trung hơn mười giấy chứng nhận công nhân thì coi như hóa giải khỏi thành phần bị gọi đi kinh tế mới.

Không phải chỉ có duy nhất cách của tôi, mà mỗi người đều có sáng kiến hay ho cho riêng mình. Anh tình nguyện vào thanh niên xung phong, chị nhận làm chị nuôi cho các đoàn đi thăm vùng kinh tế mới, họ đều mưu tìm một số bảo đảm cho thành tích lao động tích cực của họ để có lợi thế khi bị bình bầu.

Có thời đại nào con người bị điêu linh và vong thân đến vậy không nhỉ ? Những con người bề ngoài tưởng là bằng phẳng êm tịnh nhưng bên trong đều là biển thái bình dậy sóng, những đợt sóng ngầm chực chờ dìm sâu đời họ vào phong ba bão táp mà không biết lúc nào ngưng.

Phần 15

Sống giữa xóm Cụt tôi như nằm trong cái hộp, bốn bề vây quanh bằng những gờ tường cao lừng lững. Tin tức phần thì bị bưng bít, phần bản thân tôi cũng ít quan tâm. Nỗi ám ảnh lời dặn dò của tay chính ủy nói riêng với tôi khi được gọi làm thủ tục về với gia đình còn văng vẳng suốt ngày.

Anh ta ngầm ngầm nhìn tôi rồi nhẩn nha kể lể : tôi biết các anh rắn đầu lắm, còn ở đây thì còn nhũn nhặn, ra về đối mặt với thực tế, đôi khi dễ chóng quên. Tôi chắc thâm tâm anh không muốn quay lại đây lần nữa vì chẳng có cuộc tập trung “ cải tạo “ nào xem ra nhẹ nhàng cả. Các anh không muốn, chúng tôi càng không muốn hơn, hòa bình đã nhiều năm mà nào tôi đã được trở về thăm quê. Nỗi nhức nhối đó đôi khi làm tôi hận các anh, giá đừng có chuyện người bị giữ thì làm gì có cảnh người canh tù. Vậy ra về anh hãy giữ gìn cẩn thận, đừng dại dột đối đầu với người muốn gây sự với anh. Dưới mắt họ, anh chẳng là gì hết, cụng nhau chỉ bươu đầu sứt trán, phần thua thiệt vẫn ở phía anh. Đừng bất đắc dĩ để chúng ta gặp lại nhau lần nữa ở chỗ này, chẳng vui gì và còn kéo dài thời gian vô ích.

Tôi hết sức cám ơn anh ta, một lóe nắng giữa mùa đông rét mướt. Về gia đình, tôi mới thấm thía lời của anh. Dạo Trung Quốc rục rịch choảng người đồng chí “ môi hở răng lạnh “ của mình, bọn quan quân chúng tôi bị tập trung ắc ê gọi là tập tành quân sự.

Đúng là điếc không sợ súng, dù gì chúng tôi cũng được huấn luyện gần cả năm hoặc lâu hơn tại các lò luyện đánh nhau, thế mà vẫn phải đóng kịch lơ láo đến ngồi nghe một tay du kích phường chỉ vẽ cho cách lấy đường ngắm vũ khí. Tếu nhất là tôi được gọi ra chất vấn thế nào là đường ngắm đúng, làm tôi suýt bật cười mà vẫn cố bặm môi nghiêm trang đọc vanh vách lời định nghĩa ở liên trường võ khoa dạy thuở xưa.

Đã thế, nào được xem là xong. Tay nhóc con ngồi gác chân lên ghế hút thuốc lá vặt nghe xong còn phán một câu xanh dờn : anh định nghĩa tạm được, dù chưa đủ hoàn toàn, làm cả bọn tôi nhìn nhau láo liên như rớt từ cung mây xuống.

Không gì cay đắng và khổ nhục bằng mình hóa ngọng hóa nghịu, hóa đui hóa điếc, hóa ngẩn hóa ngơ. Cho nên thôi thì nhắm mắt, bịt tai, lấy keo dán miệng cho qua. Thế nhưng thằng tửng nhà tôi thì không chịu như vậy. Nó đúng là cái ống nhổ để thiên hạ có gì trút toẹt vào, dù hay dù dở, dù xấu dù đẹp.

Khơi khơi khoảng cuối những năm 80 bước sang đầu 90, nó về khoe nhặng xị với tôi : bố này, mình sắp mở cửa, nghe đâu các nước sắp đổ vào làm ăn buôn bán. Tôi nạt nó nói bậy : đời nào lại có chuyện này. Đánh nhau hằng chục năm, hy sinh hằng mấy triệu người để đạt cái chính danh “ đánh cho Mỹ cút “ hoặc “ hoàn tất con đường đi lên chủ nghĩa xã hội “, chẳng lẽ lại nhanh chóng nhận phe phái ngày nao đánh nhau vỡ đầu thì còn gì là “ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản “ nữa. Phương chi, các nước thập thò đến làm ăn nếu không là Pháp, Úc, Anh, Nhật, Đài Loan, Đại Hàn thì cũng dây dưa đến bọn tư bản thù hằn mới đây, chừng đó ăn làm sao nói làm sao với các gia đình liệt sĩ hay có công vì đánh nhau tóe khói để lại rước họ vào.

Tôi bỏ lơ lời nói của thằng con, có lúc còn nghĩ là nó nói khùng nói điên cho đỡ nản. Thế nhưng hôm nghe báo chí loan tin trân trọng chuyến bay Air France đầu tiên ghé Saigon, bay rất thấp để ai cũng nhìn thấy loáng thoáng dáng vóc phi hành đoàn thì tôi thấy thằng tửng có thể đi làm thầy sờ mu rùa kiếm tiền được rồi.

Lại thêm, những tin thằng chó đem về ngày thêm giựt gân hơn nữa. Một hôm nó không oang oang như thường lệ mà thập thò như thằng ăn cắp, nó lôi tôi sền sệt vào sau nhà mà dặn : bố đừng nghe ai rủ rê làm đơn xin đi Úc là sập bẫy đó nghe. Mấy hôm nay họ hốt đám này dữ lắm vì ai ngây thơ nghĩ đã có sự thỏa hiệp giữa hai nước Việt Úc là coi như tự đút đầu vào túi.

Hồi đó, tin tức loạn xạ, khi thế này lúc thế khác. Không khống người ta bung tin sắp cho người đi ra ngoài nước, chủ yếu là các ông đi tù về. Ai cũng nháo nhào theo dõi xem độ xác thực đến bao nhiêu. Rồi lại có tin Mỹ sắp tặng gia đình nào không chịu đi số tiền 5000MK làm vốn sinh sống. Ôi chao, giữa cảnh bo bo, khoai độn, gạo hẩm, bụng không no mà nghe khơi khơi sắp có 5000 tiền đô thì ai mà chẳng hám.

Nhưng dần dần các tin tương tự đều tự hóa giải vì chả ai hiểu nguồn gốc từ đâu mà loan ra. Y như người đi đường dài, thỉnh thoảng lại nhóng với nhau sắp tới chỗ nghỉ để còn hơi sức mà đi tiếp.

Đến cái tin nhà nước sắp cho người Hoa ra đi bán chính thức với điều kiện nộp một món tiền theo đầu người thì thằng tửng nói là chắc chắn hoàn toàn, nhưng gia đình tôi có vặn răng cũng chẳng ra được một hạt bụi vàng thì làm sao mưu toan đi đây. Chuyến đầu tiên ra khơi đó trot lọt, dù có tin là người ta gửi hết mớ này đến mớ khác, khiến ghe khẳm muốn chìm, hoặc người Hoa tương kế tựu kế giả đem củi theo để nấu ăn dọc biển mà thực ra là họ tráo đem trầm hương hầu chuộc vốn bỏ cho chuyến đi.

Dư luận thế giới cũng hùa nhau phê phán nên sau chuyến này thì tịt luôn. Những người rắp tâm đợi xem kỹ càng mới hành động thì đành ngậm đắng nuốt cay vì tiền đã đóng mà thuyền thì không ra khơi nữa.

Lại thêm, cái tin đã có sự âm thầm chuyển thư gửi xin tị nạn LHQ qua hệ thống bưu điện. Thằng tửng nói rõ quầy số mấy của bưu điện Saigon chịu nhận chuyển đi với tiền lót tay ra sao đó, còn kèm thêm ai muốn làm đơn bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh đều có “ cò “ nhận giúp ngay tại quầy viết cạnh đó. Ôi chao, những cái tin làm lao xao tấm lòng hạn hán đang mong vài giọt mưa cho mát mặt.

Cho đến một bữa khác thằng tửng khoe là gia đình một người nào đó vừa nhận được thư gửi thẳng từ Mỹ về không phải dùng con đường lòng vòng qua Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Đan Mạch v.v…

Rồi hải quan thông báo cho lập sổ nhận tiền, nhận hàng, dù còn hạn chế mỗi năm vài bận, nhưng thứ gì mặt này cho thì lại mặt kia bày ra thủ tục để kiếm chút cháo. Cấp phường trực tiếp xem ra vớ bở nhất vì đơn từ hay giấy tờ gì cũng đều phải qua sự chứng nhận của họ thì mới có giá trị hoặc được hay không.

Những thùng hàng, những hộp thuốc cưu mang gửi về, dù phải lặn lội vào Saigon hay ra Đà Nẵng để nhận thì mọi người cũng cố vay mượn mà đi. Chợ thuốc Tân Định đặt người tại các trạm, mời bán hay ghi chép địa chỉ để theo đến tận nhà điều đình. Những cò mua lại hàng, hay các chủ ứng tiền cho mượn đóng thuế, mục đích bắt buộc người lãnh phải bán, nhượng lại cho họ với giá hời vì ân huệ nhờ đó mới lấy hàng ra được.

Rồi những tin kể lại với nhau về xin khéo, mua khéo để mau mắn được kiểm sớm, thuế giảm và có người còn cường điệu bằng cầm lên sấp hàng mới nhận để đón lại cảm giác mùi vị của một thời lãng đãng còn rơi rớt mới đây. Ai cũng đau hơn bị bò đá mà cắn răng chịu vì có nằm mơ cũng không nghĩ là đột nhiên mình nhận được ơn mưa móc thế này.

Những giọt lệ thút thít, những tình cảm lưu linh, những bức thư kể lể cho nhau nỗi nhớ nhung của người ở xa với người kẹt lại, dù đằm đằm mà sao đâm nhói vào tim óc của nhau.

Một hôm, bất chợt ông thương binh về hưu gặp tôi. Cả hai cùng ngượng ngùng mất mấy giây, rồi ông ta hỏi thăm : tôi nghe nói nhà nước đã cho các ông được nhận quà của thân nhân ở nước ngoài, vậy ông có được bạn bè hay bà con gửi giúp đỡ gì chưa.

Tôi nghẹn vì nhớ ra chẳng có ai hết. Bạn bè thì hoặc là không biết ai còn ai đi, hoặc là chân trời góc bể nên mù mịt mọi bề, còn thân nhân thì ai biết và biết ai đâu. Tôi giả tảng nói nước đôi để khỏi chạnh lòng và cũng để không gây cho ông hàng xóm nỗi buồn lây của mình.(còn tiếp)

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.