Hồi ký của Bác Sĩ Lý Chí Thỏa(BS riêng của Mao) Chương 31,32,33, 34 và 35

Mao

Chương 31

Đã lâu lắm mới lại có một mùa hè tuyệt vời như mùa hè năm nay. Đêm nào trời cũng mưa còn ban ngày lại nắng dịu. Chẳng ai nghi ngờ, vụ thu hoạch mùa thu năm nay sẽ bội thu nhất trong lịch sử Trung quốc. Cả nước Trung quốc ngập chìm trong ngất ngây, tràn trề cảm kích và rất đỗ lạc quan.
Đầu tiên, chúng tôi tới thăm vài công xã mới thành lập ở tỉnh Hà Bắc. tinh thần lạc quan của nông dân được thể hiện bằng cả những cái tên của các cơ quan, những cái tên hứa hẹn một tương lai vẻ vang và cách mạng như Công xã cộng sản Công xã Bình minh. Công xã Rạng đông, Công xã Cờ đỏ.
Sau đó chúng tôi đến Hà Nam, nơi viên bí thư thứ nhất Vũ Chí Phú, một người thấp béo và mau miệng, đưa chúng tôi đi bằng ô tô đọc theo những con đường không trải nhựa, đầy bụi bặm đọc ngang trong khắp tỉnh của ông. Chúng tôi đi trên một đoàn xe với hàng chục người cả thảy, gồm một đơn vị lính có vũ trang dưới sự chỉ huy của Vương Kính Tiên, một đội bảo vệ tỉnh của Vũ Chí Phú, các phóng viên báo Tân Hoa và vài phóng viên của báo đảng tỉnh Hà Nam. Trời tháng tám nóng toát mồ hôi. Chúng tôi đội những chiếc mũ lớn, rộng vành để che nắng. Mỗi khi nghỉ chân ở đâu đó, có người đưa đến cho chúng tôi những chiếc khăn ướt để lau cho mát. Hai chiếc xe tải chở đưa hấu tươi và ngọt lúc nào cũng đi theo chúng tôi. Dưa hấu là món giải khát tốt nhất đối vớí chúng tôi trong cái nóng như thiêu như đốt này. Mao không hề bận tâm đến cái nóng. Ông chẳng đụng đến đưa hấu, trong khi nhiều người khác trong xe ông đã đổ xô vào thứ quá mọng nước này.
Mao phấn khởi vì ông được tận hưởng cái thú trở về nông thôn. Mỗi khi dẫm phải phân bò bẩn giày, nhưng ông không để cho ai lau chùi. Ông nói:
– Đây là phân, rất có ích. Tại sao lại phải lau nó đi?
Chỉ đến tối khi ông cời giày, vệ sĩ của ông mói đem giày đi rửa. Những cánh đồng được mùa và đông nghịt nông dân đang làm việc ở phía bắc Hoàng hà, phụ nữ rất ít khi tham gia việc đồng áng. Nhưng ở đây chúng tôi thấy phụ nữ mặc quần áo màu đỏ rực và màu xanh đang cùng làm việc với đàn ông. ở huyện Lan Cao. Mao có ý định muốn bơi ở dòng sông Hoàng có nhiều truyền thuyết. Ông cử vệ sĩ tin cẩn của ông là Tôn Vĩnh, người đã từng cổ vũ ông bơi ở sông Dương Tử, bơi thử. Nhưng Hoàng hà toàn bùn và phù sa. Mực nước lại chỉ cao đến ngực và trông như một thứ dung dịch màu nâu. Tôn Vĩnh và những nhân viên an ninh khác vừa xuống nước đã bị lún xuống bùn tới đầu gối. Chỗ nào ở con sông cũng vậy cả. Mao định hủy bỏ dự định đi bơi của ông.
Ngày 6-8, Vũ Chí Phú dẫn chúng tôi đến làng Thất Lý thuộc huyện Tân Cương. Dọc hai bên con đường dẫn đến làng này là những cánh đồng bông cao ngang ngực với những quá bóng tròn, to bằng nắm tay, trắng rực lên dưới ánh náng mặt trời. Làng Thất Lý chắc sẽ được mùa bông.
Khi ô tô của chúng tôi đèn sân làng, chúng tôi được đón chào bằng một tấm biểu ngữ lớn, màu đỏ giăng ngang lối vào trụ sở đáng bộ của làng: Công xã nhân dân làng Thất Lý.
Vừa xuống xe, Mao đã tươi cười. Ông nói:
– Cái tên Công xã nhán dân hay lắm! Công nhân Pháp đã thành lập công xã Pari khi họ giành chính quyền. Còn nông dân ta thành lập được công xã nhân dân như một cơ sở kinh tế và chính trị trên con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Công xã nhân dân là tuyệt vời.
Ba ngày sau, Mao lặp lại lời bình của ông ở Sơn Đông. Một phóng viên Tân Hoa xã đứng gần đó nghe được và lập tức những lời nói của Mao xuất hiện trên các mặt báo toàn quốc. Những lời nói này của Mao mau chóng trở thành khẩu hiệu có sức thuyết phục đến nỗi chúng đã được các bí thư đảng ở các cấp răm rắp tuân theo như chiếu chỉ của vua. Bỗng nhiên các hợp tác xã nông nghiệp ở khắp Trung quốc được tập họp lại thành những công xã khổng lồ thành những cơ sở mà hai lĩnh vực hành chính và sản xuất nông nghiệp gắn liền với nhau, đồng thời quyền lực của đảng cộng sản ở nông thôn cũng được củng cố.
Chuyến đi từ công xã này đèn công xã khác đã cung cấp cho chúng tôi những hiểu biết lý thú. Có một cái gì đó thật to lớn, mới mẻ và trước đây chưa từng có trong lịch sử đã diễn ra ở nông thôn. Cuối cùng, Trung quốc đã tìm ra con đường thoát khỏi nghèo đói và tiến tới sung túc. Nông dân Trung quốc sắp được cứu thoát. Cả tôi cũng ủng hộ công xã nhân dân. Mao chủ tịch thật có lý. Công xã nhân dân thật vĩ đại. Mao rất phấn khởi. Trên đường trở về Bắc Đới Hà ông vẫn còn phấn khích và chưa bao giờ tôi thấy ông có vẻ hạnh phúc như vậy. Ông tin chắc vấn đề cung cấp lương thực ở Trung quốc đã được giải quyết và bây giờ đất nước sẽ dư thừa lương thực
Bốn ngày sau khi chúng tôi trở về, tức là ngày 17-8-1958, Mao triệu tập một cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị, kéo dài đến ngày 30.8. Trong khi họp, câu trả lời của Mao đối với Khơ-rút-sốp được công bố vào ngày 3.8. Sau đó, Trung quốc bắt đầu dùng tới số bom đạn mà Mao đã từng đề cập để oanh tạc dữ dội hòn đảo Kim-môn ở ngay ngoài khơi bờ biển tỉnh Phúc Kiến và đang bị Quốc dân đảng chiếm giữ. Đó là sự đáp lại của Mao đối với ý định làm làm dịu căng thẳng giữa Liên-xô và Mỹ của Khơ-rút-sốp, và cũng là sự khẳng định của Mao với Liên-xô và Mỹ về vai trò quan trọng của Trung quốc trong bộ ba siêu cường. Mao hiểu những nỗ lực vì hòa bình thế giới của Khơ-rút-sốp là âm mưu hòng khống chế ông và Trung quốc. Ông tin chắc, Tưởng Giới Thạch sẽ yêu cầu Mỹ thả một quả bom nguyên tử xuống tỉnh Phúc Kiến và Mao chẳng phản đối việc này. Việc oanh tạc đảo Kim môn là một thách thức để xem Mỹ có thể đi xa đến đâu. Mao cho bắn phá hòn đảo này hàng tuần liền. Cuối cùng, ngày 6-10, đảng cộng sản đã tuyên bố ngừng bắn một tuần, và ngày 13-10, lệnh ngừng bắn được gia hạn thêm hai tuần nữa khi một hạm đội của Mỹ vào vùng bờ biển của Đài Loan để bảo vệ khu vực này trước sự tấn công của Trung quốc. Mao lại ra lệnh tiếp tục bắn phá. Ngày 25.10, một chiến lược mới được công bố: Nếu các tàu chiến Mỹ không vào gần, thì đại bác của Trung quốc ngừng bắn vào các ngày chẵn và chỉ pháo kích các đảo Kim Môn và Mã Tổ vào các ngày lẻ. Mao biết, những đồng chí như Khơ-rút-sốp và một vài đồng chí Trung quốc ngỡ ông muốn chiếm lại Đài Loan. Nhưng chẳng bao giờ ông có ý định ấy. Cá đảo Kim Mônvà Mã Tổ ông cũng không muốn lấy lại. Ông nói:
– Kim Môn và Mã Tổ là cầu nối của chúng ta với Đài Loan. Nếu chúng ta chiếm lại chúng, chúng ta sẽ mất đi cầu nối này. Con người ai cũng có hai tay phải không? Nếu chúng ta mất cả hai tay, chúng ta sẽ không nắm được Đài Loan nữa. Hai hòn đào này là hai cái que chỉ huy của nhạc trưởng để buộc Khơ-rút-sốp và Ai-xen-hao phải khiêu vũ. Đồng chí đã thấy tầm quan trọng của hai hòn đảo này rồi chứ.
Đối với Mao, việc oanh tạc các đảo Kim Môn và Mã Tổ chỉ là một mánh khóe để chứng tỏ với Khơ-rút-sốp và Ai-xen-hao về tinh thần độc lập và khả năng hành động của Mao và sổ toẹt nỗ lực mới vì hòa bình của Khơ-rút-sốp. Một mánh khóe khủng khiếp. Nó đã gây ra nguy cơ về một cuộc chiến tranh nguyên tử đối với thế giới và đe dọa tính mạng của hàng triệu nhân dân Trung quốc.
Trong các hội nghị mở rộng của Bộ chính trị, có hai quyết định quan trọng. Một là cả công xã nhân dân chính thức được coi là hình mẫu mới của cơ cấu kinh tế và chính trị của đất nước. Hai là, trong vòng một năm, bằng việc sử dụng những lò luyện kim gia đình, Trung quốc phải tăng gấp đôi sản lượng luyện kim. Cả đất nước Trung hoa như trong cơn say. Mao đánh giá cao về các công xã nhân dán và bỗng nhiên hàng loạt công xã nhân dân được thành lập khắp nơi trong cả nước. Mao mới vừa nửa đùa nửa thật nghĩ ra lò luyện kim gia đình mà mọi người đã vội xây ngay những chiếc lò đó. Mọi viêc diễn ra đúng như mong muốn của Mao.

mao4

Chương 32

Mao vẫn thường đi khắp nơi. Từ ngày 10-9-1958 trở đi, ông đi khắp đất nước bằng máy bay, xe lửa và tàu thủy để tận mắt nhìn thấy bao thay đổi đang diễn ra trên đất nước. Mỗi lần ông dừng lại ở đâu đó. sự ngưỡng mộ của dân chúng đối với ông lại tăng thêm. Trước tiên chúng tôi bay tới Vũ Hán. Hai người trong số những người sùng bái Mao nhất là Trương Thế Trung – đảng viên đảng dân chủ và cũng là kẻ phản bội Quốc dân đảng và bí thư thứ nhất tỉnh An huy Tăng Huy Sinh đã tới thăm Mao. Mao đã mời Trương Thế Trung cùng tham gia chuyến đi thị sát này. Trương sung sướng trả ơn Mao bằng những lời xu nịnh. Ông tấm tắc khen: Tình hình cả nước thực sự đang ở thời kỳ thuận lợi nhất. Thời tiết tốt, nhân dân hưởng thái bình và mỗi người tỏ ra rất yên tâm. Tăng Huy Sinh cũng cững ra sức lấy lòng Mao. Ông tìm cách thuyết phục Mao tiếp tục đến thăm An Huy. Quê của Trương Thế Trung cũng là An Huy, nên ông đã ủng hộ nguyện vọng đó của Tăng. Cuối cùng Mao đồng ý và chúng tôi đến thành phố Hà Phi, thú phủ của tỉnh. Lúc đó, chúng tôi đã được chứng kiến một kỳ quan mới, với câu thần chú về lò luyện kim gia đình. Chiếc lò đầu tiên là một vật quái dị, được ngẫu hứng xây nên bằng gạch và vôi vữa, cao khoảng từ 4 đến 5 mét mà tôi nhìn thấy ở sân sau của các cơ quan đảng của tỉnh An Huy. Trong ánh lửa sáng rực, tất cả những đồ dùng bằng sắt thép của gia đình như nồi, chảo, tay nắm cửa. cuốc xẻng…được nấu chảy để sản xuất ra thép như Tăng đã quả quyết với Mao. Tăng Huy Sinh nhặt một mảnh sắt nóng dưới đất được cời từ trong lò ra để cho Mao xem kết quả của công việc. Bên cạnh đó là những thành phẩm được xếp thành hàng. Chúng là sản phẩm của lò luyện kim gia đình và làm cho người ta không còn nghi ngờ về hiệu quả của nó. Mao kêu gọi cả nước, bằng những biện pháp kinh tế có hiệu quả, trong vòng 15 năm phải vượt nước Anh về sản lượng sắt thép. Tại sao người ta phải bỏ ra hàng triệu đô la để xây dựng các nhà máy luyện kim hiện đại, trong khi sắt thép có thể luyện được ngay trong những lò để trên sân hay trên những cánh đồng, mà hầu như chẳng tốn kém gì?
Tôi ngạc nhiên. Lò luyện kim này biến những dụng cụ gia đình thành sắt vụn, nấu chảy những con dao, rồi làm thành những thanh thép. Sau đó những thỏi thép này lại được rèn thành dao. Tôi chẳng biết những thanh thép đó có đạt chất lượng cao hay không, nhưng tôi thấy thật khôi hài khi người ta nấu thép để sản xuất ra thép, nấu chảy dao để rèn thành dao. Khắp nơi ở An Huy đều có những lò luyện kim gia đình và tất cả những lò này đều sản xuất ra những thỏi thép chẳng theo một tiêu chuẩn nào.
Khi chuyến viếng thăm An Huy của Mao gần kết thúc, Trương Thế Trung dễ nghị Mao nên đi qua khắp các phố phường trong một chiếc xe mui trần để dân chúng thành phố có thể chiêm ngưỡng tận mắt vị lãnh đạo vĩ đại của họ. Kể từ khi giải phóng Bắc Kinh vào mùa hè năm 1949, khi Mao đi trên một chiếc xe gíp mui trần giữa những dãy phố đông nghịt người vẫy chào, đến nay Mao không còn xuất hiện trước công chúng mà không được bảo vệ nữa. Những chuyến đi thị sát ở địa phương của Mao luôn luôn được giữ bí mật và được đảm bảo an ninh tuyệt đối.
Khi ông đến thăm các nhà máy, các cuộc gặp gỡ của ông với công nhân được kiểm soát chặt chẽ. Thường thường các cuộc gặp gỡ cá nhân chỉ được giới hạn trong phạm vi những vị lãnh đạo cao cấp của đảng và giới lãnh đạo của các đảng dân chủ. Việc Mao xuất hiện trên khán đài ở Thiên An Môn mỗi năm hai lần xem ra chỉ là trường hợp ngoại lệ. Ngay cả những người có mặt tại quảng trường rộng lớn đó trong hai ngày ấy cũng đã được chọn lọc. Nhưng không phải chỉ có vấn đề an ninh ngăn cản Mao xuất hiện trước công chúng. Chính Chủ tịch cũng không muốn mang tiếng là đã cổ vũ cho sự tôn sùng cá nhân.
Tuy vậy. Mao cũng cho rằng quần chúng mong muốn có một nhân vật lãnh đạo vĩ đại và việc để cho họ tận mắt nhìn thấy ông sẽ có một tác dụng động viên họ rất lớn. Ông cần thực hiện một thủ thuật khiến cho quần chúng đòi hỏi sự lãnh đạo của ông một cách hoàn toàn tự nhiên. Nhà dân chủ Trương Thế Trung đă cảm nhận được trạng thái khó xử của Mao và ông đã chuẩn bị chu đáo để kéo Mao ra trước quần chúng. Trương nói: Chủ tịch có vẻ e ngại về sự tôn sùng cá nhân ngày càng tăng.
Nhưng rồi ông ta lại viện cớ rằng Mao Chủ tịch là Lê nin của Trung quốc chứ không phải là Stalin. Cũng giống như Lê-nin, Mao Chủ tịch đã lãnh đạo đảng cộng sản và nhân dân Trung quốc làm cách mạng thành công và hiện giờ Mao Chủ tịch lại lãnh đạo công cuộc xây dụng chủ nghĩa xã hội. Khác với Lê-nin, người đã chết sau khi cách mạng thành công tám năm. Mao chủ tịch vẫn là người lãnh đạo và nhân dân Trung quốc hy vọng trong vòng ba bốn chục năm tới họ sẽ vẫn được ông dìu dắt. Sự khác biệt giữa Mao Chủ tịch và Stalin ở chỗ Stalin luôn luôn tìm cách để người ta tôn sùng ông. Ngược lại, Mao Chủ tịch không làm như vậy. Chủ tịch duy trì một tác phong lãnh đạo dân chủ, coi trọng ý kiến của quần chúng, bác bỏ sự chuyên quyền và độc đoán. Trương hỏi: Như thế thì làm sao ở nuớc có sự tôn sùng cá nhân được? Những tiến bộ to lớn, cuộc sống hàng ngày của nhân dân được cải thiện rõ rệt đến nỗi quần chúng muốn chân thành bày tỏ sự kính trọng đối với Chủ tịch. Nhân dân ta thực sự yêu mến người lãnh đạo vĩ đại của mình. Mao gật gù với những lời tâng bốc của Trương. Thật là kẻ tung người hứng. Mao đồng ý ra trước công chúng Hà Phi.
Ngày 19-9-1958, hơn 300 nghìn người đứng chen chúc hai bên lề đường ở các phố phường Hà Phi để tận mắt nhìn thấy Chủ tịch. Chiếc xe mui trần của Mao chầm chậm đi khắp thành phố. Ông thản nhiên giơ tay vãy chào họ và ngập mình trong sự ngưỡng mộ. Tôi ngờ rằng không phải quần chúng ở Hà Phi tự nhiên kéo đến như quần chúng đã tập hợp lại quảng trường Thiên An Môn trước đây.Những người chào đón mặc những bộ quần áo sặc sỡ, họ vẫy những bó hoa, những dây hoa khi đoàn xe đi qua. Họ hát những bài hát, nhảy múa và hô những khẩu hiệu: Mao Chủ tịch muôn năm!. Công xã nhân dân muôn năm!. đại nhảy vọt muôn năm!. Tất cả những điều đó làm cho người ta nghĩ rằng Tăng Huy Sinh đã không để cho sự việc diễn ra một cách tự nhiên. Mặc dù vậy, đám đông vẫn nhao nhao vì kích động khi nhìn thấy Mao. Mao có ý định thiết lập một cơ cấu phân phối lương thực cho các công xã nhân dân ở nông thôn, để ai cũng có thể ăn những gì người đó muốn mà không cần trả tiền. Ông nói về việc sẽ không trả lương cho cán bộ nữa, mà thay vào đó là quay lại chế độ bao cấp tương tự như chế độ đã lừng tồn tại cho đến năm 1954 – một chế độ đã làm lụn bại dự trữ ngoại tệ của tôi. Các khoản lương sẽ không còn nữa. Những nhu cầu cơ bản sẽ được nhà nước đáp ứng. Thêm vào đó là một khoản trợ cấp ít ỏi cho những chi tiêu bất thường. Theo Mao, chế độ này trước hết sẽ được áp dụng cho cơ quan trung ương ở Trung Nam Hải, bắt đầu từ nhóm Một của chúng tôi.
ở điểm này, suy nghĩ của Mao đã chịu tác động mạnh từ một bài báo ra ngày 15.9 do trưởng Ban tuyên huấn thành phố Thượng Hải Trương Xuân Kiều viết. Mao khoái bài viết này đến nỗi, ông đã đề nghị vị trưởng Ban tuyên huấn đến gặp ông trên đoàn tàu. Đó là lần đầu tiên tôi gặp người đàn ông này. Ông là người nổi tiếng trong thời Cách mạng văn hóa và sau này ông cũng bị tai tiếng vì ông là một nhân vật trong bè lũ bốn tên. Ông vẫn trầm tĩnh, kinh khỉnh hay suy tư và khó bắt chuyện. Ngay khi gặp ông trên tàu, tôi đã không có thiện cảm đối vố ông và đề nghị áp dụng lại chế độ bao cấp của ông khiến tôi rùng mình. Tất cả số tiền tích được của tôi trong vòng hai năm sau khi tôi về nước đã bị chế độ này làm cho tanh bành. Việc cung cấp lương thực và trợ cấp tài chính tối thiểu không đủ đề nuôi sống gia đình tôi. Ngoài vợ và mẹ tôi, tôi còn phải nuôi hai đứa con nhỏ, và cho đến nay tôi còn phải giúp đỡ nhiều bà con họ hàng khác như bố mẹ vợ, hai bà cô và một người em họ. Không có lương cửa tôi thì tất cả chúng tôi sẽ phải sống nhờ đồng lương rất ít ỏi của vợ tôi. Như vậy, sẽ chẳng đủ để chúng tôi tồn tại.
Chẳng ai trong nhóm Một muốn áp dụng trở lại chế độ bao cấp này. Cả Diệp Tử Long cũng tỏ ra lo lắng. Ông đang có một khoản thu nhập cao và hài lòng với cuộc sống xa hoa của ông. Khi ông biết sáng kiến này của Mao động chạm đến tôi như thế nào, thì ông đã khuyến khích tôi hãy nói cho Mao biết những suy nghĩ củs tôi. Nếu tôi thành công và thuyết phục được Chủ tịch hủy bỏ kế hoạch này, thì Diệp Tử Long vẫn giữ được khoản lương của ông. Nếu Mao vẫn cứ đem cơ chế này ra áp dụng, thì tôi sẽ bị quy là phần tử chống đối và Diệp sẽ không được lĩnh lương nhưng ông sẽ chẳng bị quy tội gì về chính trị.
Mao vẫn chưa quyết định và ông thực sự muốn nghe ý kiến từ các nhân viên của ông trước khi ông áp dụng cơ chế này. Nhưng chẳng ai muốn chuốc lấy cho mình nguy cơ bị coi là phần tử chống đối. Còn đối với tôi việc này là sự sống còn của gia đình tôi. Tôi phải nói chuyện với Mao. Lúc tôi vào phòng Mao, ông đang nằm trên giường đọc sách.
– Có gì mới không?
– Chúng tôi đã trao đổi về cơ chế bao cấp.
– Có sáng kiến nào hay không?
Tôi trình bày với Mao những khó khăn mà tôi và gia đình đông đúc đang trông chờ vào trợ cấp của tôi sẽ gặp phải, nếu tôi không được hưởng lương.
Mao cho rằng ở thành phố người ta cũng có thể thành lập công xã nhân dân. Dân thành thị, thậm chí cả thanh niên, cụ già và những người không có việc làm cũng có thể được công xã bao cấp. Trẻ em sẽ được gửi vào các nhà trẻ công cộng. Đó là con đường dẫn tới chủ nghĩa cộng sản. Ông hỏi:
– Như vậy, tất cả những vấn đề của đồng chí đã được giải quyết rồi chứ?
Tôi đáp rằng, những họ hàng gìa cả của tôi không được khỏe lắm và họ không thể làm việc ở công xã nhân dân, họ sẽ rất tự hào nếu họ được làm việc và họ không muốn trở thành những người sống lạc lõng giữa những người lao động. Hơn nữa nếu công xã phải bao cấp cho họ và các con tôi, thì chắc chắn những chi phí mà nhà nước phải gánh chịu sẽ nhiều hơn lương của tôi.
Mao thừa nhận điều đó:
– Trước khi quyết, chúng ta phải tính kỹ xem lực lượng lao động trong một công xã ở thành thị là bao nhiêu và công xã có thể giúp đỡ những người không có khả năng lao động hay không. Nếu đúng là có nhiều người già và trẻ em, thì thật là khó đối với chúng ta.
Ông sẵn sàng chờ đợi, nếu chưa đến lúc.
Tiểu Chương, một người trong đám vệ sĩ đã nghe lỏm được câu chuyện giữa hai chúng tôi và khi tôi rời khỏi phòng của Mao, anh ta ra hiệu tỏ vẻ đồng tình với tôi. Tôi cũng bằng lòng với cuộc đối thoại. Hồi đó Mao có tinh thần trách nhiệm và lắng nghe những lời nhắc nhở và suy tính lợi hại của những lời góp ý có tính chất xây dựng. Thậm chí ông còn nghi ngờ ý nghĩa của những lò luyện kim gia đình và hoài nghi rằng liệu những cơ sở sản xuất nhỏ có phải là phương thức để vượt nước Anh về sản xuất thép trong vòng 15 năm hay không. Ông muốn biết: Nếu thực sự những lò nhỏ này có thế nấu được nhiều thép như vậy, thì tại sao những nước khác lại xây dựng những nhà máy luyện kim khổng lồ. Chẳng lẽ những nước khác lại kém đến thế sao?. Điền Gia Anh tỏ ra lưỡng lự. Ông rùng mình về lời kêu gọi thiết lập cơ chế bao cấp của Trương Xuân Kiều và lên án ông này vô trách nhiệm, để được lòng Mao. Điền lý luận: Chúng ta không thể thực hiện khẩu hiệu này mà không suy xét. Chúng ta không thể đơn giản lờ đi tình trạng thấp kém trong sản xuất nông nghiệp và nhu cầu cấp thiết phải cung cấp cơm ăn, áo mặc cho hàng trăm triệu người. Thật vô lý khi chúng ta kéo tho nhân dân đói rách đi trên con đường tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa. Trước đây đảng ta luôn luôn đi tìm hiểu thực tế, nhưng bây giờ chúng ta lại không làm như vậy nữa. Nhiều người khoác lác và dối trá, họ đã mất hết liêm sỉ. Như vậy, chúng ta đã làm tổn hại đến truyền thống quí báu của đảng ta.
Theo Điền, một vài báo cáo của các tỉnh hứa hẹn sản lượng thu hoạch ngũ cốc trung bình là 10 nghìn cân trên một mẫu Trung quốc (một mẫu Trung quốc tương đương 6ó0 m2 tức là khoảng 60 tấn/héc-ta – người dịch). Ông cho đó là phi lý, là đáng xấu hổ.
Điền Gia Anh cho rằng Mao đã tạo ra thủ doạn lừa đảo này. Ông Điền nói: Khi vua Chu muốn kiếm một người vợ có thân hình đẹp đẽ, tất cả tì thiếp của ông cố gắng làm giảm trọng lượng cơ thể và họ đã nhịn ăn đến chết. Một khi kẻ trị vì nói ra ý muốn của mình, thì tôi tớ gắng hết sức để thực hiện cho được ý muốn đó.
Kế hoạch đại nhảy vọt của Mao thậl là viễn tưởng – vượt nước Anh trong vòng 15 năm, cải tạo sản xuất nông nghiệp và dùng công xã nhân dân làm phương tiện để chuyển từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa cộng sản, chuyển từ nghèo đói sang dư thừa. Mao đã quen với những lời tâng bốc và xu nịnh, ông đã đưa giới lãnh đạo cao cấp của đảng chính phủ đến chỗ phải chấp nhận ảo tưởng vĩ đại của ông. Những cán bộ cao cấp nhất của nhà nước nịnh bợ Mao, nếu không họ phải lo ngại cho tương lai chính trị của họ. Thế là họ lại gây sức ép đối với những cán bộ cấp dưới. Những người này, một mặt lại hành hạ nông dân không thương tiếc, mặt khác họ báo cáo cấp trên những điều mà cấp trên của họ muốn như thế. Người ta đã tạo ra những báo cáo tưởng tượng không thể tin được. Những số liệu về sản lượng ngũ cốc tăng từ 10 nghìn lên 20 nghìn thậm chí tới 30 nghìn cân một mẫu.
Có lẽ những chuyên gia về tâm lý quần chúng mới có thể giải thích được những gì đã xảy ra ở Trung quốc vào cuối mùa hè năm 1958. Căn bệnh điên loạn tập thể đang ngự trị cả nước. Cả Mao, tác giả của chiến dịch cũng trở thành nạn nhân của căn bệnh này.
Chúng tôi trở về Bắc Kinh để kịp dự lễ kỷ niệm ngày 1-10. Nhưng ngay sau đó, chúng tôi lại lên đường về phương Nam. Những quang cảnh mà chúng tôi thấy được từ trên tàu thật là khó tin. Trên cánh đồng, đông nghịt nông dân làm việc. Họ là phụ nữ, các em gái mặc quần áo xanh, đỏ, những ông già tóc bạc và những thiếu niên. Tất cả những người đàn ông khỏe mạnh đã bị rút khỏi công việc đồng áng để làm việc ở những lò luyện kim gia đình. Những lò này đã làm quang cảnh nông thôn thay đổi. Chúng mọc lên ở khắp nơi và chúng tôi có thể nhìn thấy nông dân luôn vội vàng, chạy đi chạy lại để vận chuyển nguyên liệu và thổi lửa. Ban đêm, những lò luyện kim ở khắp nơi tỏa ra những ngọn lửa sáng cả bầu trời.
Mỗi công xã chúng tôi tới thăm đều cho thấy kết quả của một vụ mùa bội thu. Những thống kê về sản lượng ngũ cốc cũng như sản lượng thép đều đạt kết quả cao. Những trạm phổ biến tin vui được thành lập ở các nhà ăn của công xã. Cờ đỏ phất lên, chiêng trống khua vang và mỗi trạm thi dua đạt những con số cao nhất với các tổ đội và các công xã láng giềng.
Những nghi ngờ ban đầu của Mao biến mất và nhận thức lành mạnh của ông cũng biến theo luôn. Cứ theo thái độ của ông mà đánh giá thì ông tin vào những con số về sản lượng nông nghiệp đã được phóng đại lên một cách đáng xấu hổ. Lòng phấn khởi của ông được tăng thêm và nó lây lan cả tôi. Tất nhiên lôi rất ngạc nhiên là nông nghiệp Trung quốc lại có thể chuyển mình một cách nhanh chóng đến như vậy.

mao và giang thanh
Nhưng tôi nhìn thấy sự thay đổi này bằng con mắt của chính mình và chỉ thoáng nghi ngờ.
Một buổi tối trên tàu. Lâm Khắc tìm cách giải thích mọi việc cho tôi. Tôi vừa chuyện trò với Lâm Khắc và Vương Kính Tiên, vừa nhìn những ngọn lửa của những chiếc luyện kim kéo dài đến tận chân trời và bày tỏ sự kinh ngạc của tôi về việc những lò luyện kim lại có thể mọc lên nhanh chóng đến thế và sản lượng sản xuấl bất ngờ lăng lên.
Lâm Khắc đáp lại rằng tất cả những thứ chúng tôi nhìn thấy qua cửa sổ đều là dàn dựng cả – một vở tuồng Trung quốc vĩ đại có nhiều hồi được trình diễn trên khắp đất nước và chỉ dành riêng cho Mao. Các bí thư đảng đã ra lệnh khắp nơi dọc theo hai bên tuyến đường xe lửa, người ta phải dựng lên hàng chục nghìn những chiếc lò luyện kim gia đình, và phụ nữ phải mặc những bộ quần áo sặc sỡ. ở Hồ Bắc, ông bí thư đảng đã ra thỉ thị mang lúa từ những cánh đồng xa đến trồng dọc theo đường tàu, tạo cho Mao cảm giác được mùa. Những cây lúa được trồng sát nhau đến nỗi người ta phải sử dụng quạt điện để tăng cường lưu thông không khí trên cánh đồng và để cho lúa khỏi úa vàng. Cả đất nước Trung quốc là một sân khấu và toàn dân trình diễn một vở kịch cho Mao Chủ tịch xem.
Lâm Khắc cho biết những con số thống kê sản xuất là giả tạo. Chẳng có loại đất trồng nào có thể thu hoạch được 20 hoặc 30 nghìn cân trên một mẫu cả. Và những thỏi thép do các lò luyện kim gia đình nấu được đều chẳng làm được gì. Thỏi thép bóng láng mà tôi nhìn thấy ở An Huy mà Tăng Huy Sinh quá quyết là sản phẩm của những chiếc lò này, thực ra là sản phẩm của một nhà máy luyện kim đồ sộ và hiện đại.
Tôi phản đối: Nhưng báo chí đã nói khác.
Lâm Khắc cam đoan rằng cả báo chí cũng chỉ là dối trá và chỉ in ra những gì được người ta chỉ thị. Báo chí chẳng dám vạch cho công chúng biết những gì đã thực sự xảy ra. Tôi kinh hoàng. Báo Nhân dân là nguồn thông tin quan trọng nhất đối với chúng tôi và là một tờ báo nghiêm chỉnh nhất của đất nước. Nếu báo Nhân dân cũng dối trá thì còn báo nào nói thật nữa. Cuộc đối thoại của chúng tôi thật nguy hiểm. Những câu hỏi tò mò và dồn dập của tôi làm cho Vương Kính Tiên lo ngại. Ông cắt ngang: Chúng ta không nên nói chuyện này nữa. Đến giờ đi ngủ rồi. Khi tôi tranh cãi với Lâm Khắc. Vương kéo tôi sang một toa bên và cảnh cáo tôi nói năng bừa bãi: Đồng chí có thể sẽ gặp rắc rối đấy. Tôi không thể tin Lâm Khắc. Tôi bị cuốn hút vào màn kịch của chiến dịch đại nhảy vọt và đã bị lừa gạt. Tôi vẫn tin đảng, Mao và báo Nhân dân. Nhưng sự phanh phui này thật đáng lo ngại.
Nếu những lời nói của Lâm Khắc là đúng, thì lại sao không ai nói thật cho Mao biết? Các cố vấn của ông như Điền Gia Anh, Hồ Kiều Mục, Trần Bá Đạt, Vương Kính Tiên, Lâm Khắc hay Chu Ân Lai để làm gì? Nếu họ biết sự thật thì lại sao họ không báo cáo với Mao? Nhưng chẳng ai, kể cả những nhân viên tin cẩn nhất của Mao dám mở miệng. Tôi tự hỏi liệu Mao mặc dù trông ông hăng hái ra mặt có hồ nghi gì không?
Tuy nhiên đến tháng 10.1958, mối quan tâm của Mao không phải là các con số thống kê hoặc sự gia tăng kỳ lạ của sản lượng ngũ cốc và thép. Có lẽ, đã có những con số phóng đại. Nhưng điều làm ông lo lắng là sự quả quyết rằng chủ nghĩa cộng sản đang ở trung tầm tay. Vấn đề của Mao là kiểm tra được độ tin cậy của sự việc này, mà vẫn không làm giảm nhiệt tình gắn liền với nó. Một đêm, ông nói:
– Không ai có thể ngăn cản quyết tâm và nhiệt tình của quần chúng. Nhưng công xã nhân dân là hoàn toàn mới mẻ. Còn rất nhiều công việc khó khăn đến khi nó trở thành một cơ cấu thực sự hoạt động được. Nhiều đồng chí lãnh đạo muốn gấp rút triển khai công việc cũng chỉ với ý tốt. Họ hấp tấp muốn tiến ngay lên chủ nghĩa cộng sản. Một số người khác vẫn nghi ngờ con đường chính trị đã chọn, nghi ngờ đại nhảy vọt và công xã nhân dân. Thậm chí, một vài kẻ bảo thủ còn ngấm ngầm gây khó khăn.
Sự lạc quan vẫn còn khi Ban chấp hành trung ương đảng họp ở Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam, từ ngày 2 đến ngày 10-10-1958. Mao nhấn mạnh với những người tham dự điều mà ông đã từng nói với tôi rằng: đường lối chính trị chung – kế hoạch đại nhảy vọt và công xã nhân dân – phải được củng cố vững chắc. Nhưng giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa cộng sản đòi hỏi chúng ta phải kiên trì. Trung quốc không thể vội vã sa vào một tương lai vô định. Ngoài ra nông dân sẽ bị bưộc phải làm việc quá sức. Cán bộ ở tất cả các cấp phải quan tâm hơn nữa đến đời sống của nhân dân. Vài tháng trước đây Mao đã gây sức ép với các cán bộ và thúc họ triển khai công việc. Bây giờ ông lại ềim cách ghìm họ lại. Ông hạn chế bớt những yêu cầu quá đáng, nhưng ông lại chẳng kêu ca gì về những con số thống kê sản lượng sản xuất và các lò luyện kim gia đình đã bị người ta chế biến.
ở Trịnh Châu, rốt cuộc, bức màn che khiến tôi không nhận rõ Mao, đã được tháo ra. Trong khí thế sôi động của chiến dịch đại nhảy vọt, Mao đã không giữ kín những hoạt động cá nhân của ông. Ông sống trong con tàu của ông, nhưng tối nào ông cũng tham dự buổi dạ vũ mà người ta tổ chức để mời ông tại nhà khách ở Trịnh Châu. Tôi được biết rằng đêm nào Mao cũng ngủ với một cô y tá tên là Tiểu Lý – một trong những nhân viên của Mao và thường đi cùng với ông.
Mao đã đích thân đón tiếp đoàn văn công của quân doàn 20 có mặt tại Trịnh Châu và dội chí nguyện quân Trung quốc cuối cùng vừa từ Triều Tiên trở về. Những cô gái trẻ của đoàn vây quanh Mao. Ông ngập trong sự quan tâm của họ, còn họ thi nhau đoạt lấy vinh hạnh được nhảy cùng Mao. Cho đến nay tôi vẫn còn nhớ một phụ nữ trẻ nhảy với Mao rất đẹp, bạo dạn lắc đi lắc lại và say mê quay theo tiếng nhạc. Mao cũng cảm thấy hứng thú đối với cô gái trẻ này và thường lưu lại nơi vui thú từ 9 giờ tối đến hai giờ sáng.
Sau khi họp xong ở Trịnh Châu, chúng tôi đi tàu đến Vũ Hán. Đoàn văn công của quân đoàn 20 cũng đi theo chúng tôi. Cả Tiểu Lý cũng vậy. Mao rất phấn khỏi. Vương Nhiệm Trọng đã bố trí để từ trên tàu Mao chỉ nhìn thấy mùa màng bội thu, những lò Mác tanh làm bằng tay và những phụ nữ áo quần sặc sỡ.
Một tâm trạng vui vẻ như thường trực ở mỗi người. Nhưng với tư cách là một bác sĩ tôi làm Mao bối rối khi vạch ra rằng phụ nữ dầm mình trong những ruộng lúa ngập nước đến ngang hông chỉ tiềm ẩn nguy cơ bị nhiễm trùng bộ phận sinh dục. Mao không nói gì cả, đi khỏi cửa sổ lấy thuốc ra hút và xếp lại tranh cổ. Mao chẳng hề để ý đến những phụ nữ bất hạnh kia. Trồng lúa dưới nước sâu là một sáng kiến của tư tưởng đại nhảy vọt.
ở Vũ Hán, Mao đã triệu tập kỳ họp thứ 6 của ủy ban trung ương đảng khóa 8.
Vương Nhiệm Trọng điều động những nhân viên có khả năng nhất phụ trách an ninh, tiếp vận, và như thường lệ, cả việc thu xếp chỗ ở. Những đầu bếp nổi tiếng nhất vùng được mời đến để lo những bữa ăn với các món đặc sản hiếm có và tốn kém. Trong phòng chúng tôi lúc nào cũng có nước giải khát và hoa quả tươi. Mao từng cảnh cáo ý nghĩ cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã ở trog tầm tay. Nhưng đối với chúng tôi, những người đang hưởng một chế độ tương tự như ở thiên đường, kiểu cộng sản, thì chủ nghĩa cộng sản đúng là đã bắt đầu.
Tuy cơ quan chịu trách nhiệm về an ninh ở Hồ Bắc cố gắng che giấu những sinh hoạt cá nhân của Mao ở trên tàu, nhưng chính Mao và các tì thiếp của ông ngày càng tỏ ra trơ trẽn hơn. Các buổi dạ vũ và những đêm vui thú vẫn tiếp diễn. Mao hoàn toàn công khai đi lại với Tiểu Lý.
Mao cho tôi và tất cả nhân viên thân cận của ông nghỉ mấy ngày phép để chúng tôi có thể về thăm gia đình ở Bắc Kinh. Đó là kỳ nghỉ phép duy nhất của tôi trong suốt 22 năm. Vì vậy tôi không có mặt ở Vũ Hán khi kỳ họp diễn ra từ ngày 28-11 đến 10-12. Nhân dân và cán bộ lại được kêu gọi hãy suy nghĩ một cách thực tế hơn. Trung quốc chưa đứng trước ngưỡng cửa của chủ nghĩa cộng sản và nhân dân phải tiếp tục hưởng lương theo hiệu quả lao động. Sự nhiệt tình bao trùm cả nước là một điều tốt, nhưng những phân tích chính trị lại phải hướng tới sự thật.
Mao đã biết những con số thống kê về sản xuất là phóng đại. Bởi vậy, những định mức kế hoạch trong tương lai được hạ thấp. Cuối cùng, việc Mao từ chức Chủ tịch nước đã được chính thức công bố, trung ương đảng đồng ý rằng trong kỳ họp tiếp theo của Quốc hội, Mao sẽ không còn là Chủ tịch nước nữa.
Nhưng việc Mao rời khỏi chức chủ tịch nước là để cuối cùng ông đoạt được độc quyền lãnh đạo. Bên trong ông vẫn luôn nắm quyền lãnh đạo tối cao. Ông đang được xem là người không thể thiếu được và mọi quyền lực đều ở trong tay ông. Bầu không khí ở Vũ Hán vẫn bình yên. Còn vấn đề hiện tại chỉ là một hình thức mà Mao ưa thích. Đó là sự lạc quan và nhiệt tình quá thái, những hành động quá táo bạo, quá tích cực. Lòng nhiệt tình của Mao đối với công xã nhân dãn vẫn không thay đổi. Ông chỉ trích Liên-xô, vì họ cho rằng muốn tập thể hóa nông nghiệp có hiệu quả trước tiên phải cơ giới hóa nông nghiệp đã. Theo ông, công xã nhân dân là phương cách đúng đắn để đất nước tới thịnh vượng. Cuối cùng, quần chúng đã là người làm nên lịch sử. Nếu không tránh khỏi sai lầm, thì thà phạm phải khi tiến nhanh, tiến mạch, còn hơn là cứ khư khư giữ lấy những tư tưởng lỗi thời.
Những người đại diện cho những mang tính hữu khuynh đã bị sa thải bị bắt giam, bị đày đi cải tạo lao động và đã bỏ mình trong đau đớn. Ngược lại những người tả khuynh. những người hấp tấp triển khai công việc thì chỉ bị khiển trách qua loa. Trước khi cuộc hợp kết thúc, tôi trở lại Vũ Hán và tham dự bữa tiệc bế mạc do Mao tổ chức, để mời các nhà lãnh đạo cao cấp của đảng. Lưu Thiếu Kỳ. Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình cũng như tất cả các bí thư tỉnh ủy cũng đều có mặt Hầu như mọi những lời chúc tụng đều dồn cho Mao. Vương Nhiệm Trọng, vẫn với vẻ xu nịnh như mọi khi đã cất lời đầu tiên. Ông ta kêu gọi: Những thông tri của kỳ họp này là bản Tuyên ngôn cộng sản ngày nay. Chỉ nhờ có sự lãnh đạo thiên tài của Chủ tịch của chúng ta, ở phương Đông mới có thể một mặt trời đỏ như vậy mọc lên.
Chu Ân Lai đứng đạy diễn tiếp tiếp màn bợ đỡ: Đồng chí Trần Bá Đạt nói rằng một ngày sống trong một xã hội cộng sản thực sự đáng giá bằng hai mươi năm sống trong một xã hội phi cộng sản. Tới hôm nay chúng ta đã có được sức sản xuất của chủ nghĩa cộng sản. Kha Thanh Thế tiếp lời Chu: Người ta nói không thể vượt qua được Mác không đúng. Ngày nay, về lý thuyết và cả trong thực tế, chúng ta đã chẳng vượt ông sao?
Có cả những lời chúc tụng ngụ ý chỉ trích Liên-xô: Từ nhiều thập kỷ nay, Liên-xô đã tìm cách xây dựng một cơ chế tiên tiến cho một xã hội phát triển, nhưng không thành. Ngược lại, chưa đến 10 năm chúng ta đã làm được điều đó. Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình tuy cùng uống với mọi người, nhưng hai ông chẳng chúc tụng gì Mao cả.
Thông thường Mao uống rất ít. Nhưng trong lúc các cán bộ cao cấp của Trung quốc cạn hết ly này đến ly khác để chúc tụng Mao, thì mặt ông lại đỏ lựng. Sau đó Mao chuyển những lời nịnh bợ sang Chu Ân Lai, thuộc hạ tin cẩn nhất, người tùy tùng trung thành nhất của ông: Thủ tướng Chu tửu lượng cao lắm, chúng ta hãy cụng ly với thủ tướng.
Tôi là người đầu tiên nâng ly cụng với Chu Ân Lai. Tôi nói: Xin cạn ly! Khi những người khác đến cụng ly với Chu. Ông nói: ồ! chúng ta phải ăn mừng chứ. Tửu lượng của Chu thật đáng phục. Ông không hề đỏ mặt. Tuy vậy, trong buổi tối hôm ấy ông đã say và khi nửa đêm ông tỉnh dậy, đã bị cháy máu cam. Sáng hôm sau, La Thụy Khanh đổ lỗi cho tôi. Đáng lẽ tôi không được phép chúc rượu ông đầu tiên, vì tôi là bác sĩ, tôi phải biết rằng ép người khác uống rượu là có hại như thế nào.
Vụ thu hoạch mùa thu năm 1958 được mùa nhất trong lịch sử Trung quốc. Nhưng ngay đến giữa tháng 12 lại xảy ra tình trạng thiếu lương thực trầm trọng. Trong khi cán bộ cấp cao của chính phủ đang ca tụng tài lãnh đạo của Mao Chủ tịch thì một tai hoạ bất ngờ vốn tích tụ từ hàng tháng nay ập tới.
ở Vũ Hán, khi được Vương Nhiệm Trọng tiếp đãi linh đình, giới lãnh đạo không thể nhận ra cuộc khủng hoảng này. Nhưng trong khi đang diễn ra kỳ họp, tôi trở về Trung Nam Hải vài ngày và tôi nhận ra rằng ở Trung Nam Hải không có thịt và dầu ăn. Gạo, rau và các loại thực phẩm chủ yếu khác cũng khá khan hiếm. Hẳn có điều gì đó không ổn.
Thật vậy, phần lớn nông sản vẫn nằm ngoài đường và bị hư hỏng, vì những người đàn ông cường tráng đã phải bỏ công việc đồng áng để nấu thép ở những lò luyện kim. Còn lại đàn bà và trẻ em thì làm sao đủ sức thu hoạch mùa màng. Đây là công việc nặng nhọc, họ không thể cán đáng nhiều ngày được. Và thế là khá nhiều thóc lúa bị mục nát ở ngoài đồng.
Lúc bấy giờ tôi không hề biết điều đó, nhưng Trung quốc lại đang ở bên bờ vực thẳm. Các cán bộ lãnh đạo đảng và những bí thư thứ nhất ở các tỉnh chỉ biết nịnh bợ Mao, mà chẳng thèm để tâm gì đến đời sống của hàng trăm triệu nông dân. Những lời quá quyết phi lý rằng sản xuất tăng vọt đã được ban lãnh đạo đảng cho là nghiêm túc. Nhưng làm sao mà một mẫu (Trung quốc) đất trồng có thể đem lại 50 nghìn, 100 nghìn hoặc thậm chí 200 nghìn cân thóc được.
Các vùng nông thôn phải nộp tô một số phần trăm nhất định những hoa màu thu hoạch được của họ, và những người đã nói dối là họ bội thu, bây giờ sẽ phải chịu một khoản nộp tô khổng lồ. Một số vùng đã phải nộp toàn bộ nông phẩm mà họ thu hoạch được cho nhà nước. Còn các vùng khác, số lương thực còn lại của họ không đủ để nuôi dân chúng. Nông dân bắt đầu bị đói và rồi họ sẽ chết đói. ở đâu sự dối trá càng nhiều thì ở đó càng lắm nông dân phải trả giá bằng chính tính mạng của mình.
Vậy mà thật là lạ đời, người ta lại xuất khẩu phần lớn những ngũ cốc nộp tô cho nhà nước sang Liên-xô để trả nợ, để khỏi mất mặt. Mao không thể thú nhận với Khơ-rút-sốp – người đã kịch liệt phản đối việc thành lập công xã nhân dân – về những thất bại của công xã được.
Để giảm bớt khoản đóng góp cho nhà nước và giữ lại số lương thực để dùng, một số công xã đã báo cáo rằng họ gặp thiên tai. Vụ mùa của họ đáng lẽ đạt sản lượng cao, nhưng chỉ vì thời tiết quá xấu. Những công xã này được phép giữ lại số ngũ cốc lẽ ra họ phải nộp cho nhà nước, thậm chí một số nơi còn được nhà nước viện trợ lương thực.
Cả lò luyện kim cũng là tai họa. Vì không đủ than để nuôi ngọn lửa trong lò, nên nông dân đã phải tống vào lò cả những đồ đạc bằng gỗ của mình như bàn ghế, giường tủ. Sản phẩm của những lò luyện kim đó thật là vô dụng, chẳng có gì khác ngoài những con dao, những cái nồi, cái chảo bị nấu chảy. Thế nhưng, Mao đã quả quyết rằng Trung quốc vẫn chưa bước tới ngưỡng cửa của chủ nghĩa cộng sản, nhưng chúng ta đã vội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản theo một phương cách không hợp lý. Sở hữu cá nhân về tài sản đã bị loại bỏ, vì những tài sản đó đã bị những chiếc lò luyện kim nuốt chửng. Nhưng Mao vẫn còn phấn khích. Có lẽ cho đến lúc đó, ông vẫn không biết tai họa đang đến gần. Tôi cảm thấy tình hình ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nhưng tôi không dám nói cho ông biết. Trong số những nhân viên thân tín nhất của Mao, Điền Gia Anh là người am hiểu sự việc nhất, là người hoài nghi nhất và cũng là người thẳng thắn nhất. Theo tôi, ông nên nói cho Mao biết. Nhưng Điền lại đang ở Hà Nam để giám sát tình hình. Đến lúc ông trở về, thì mới có thể có những báo cáo trung thực được. Mao tin ông và Mao sẽ tin lời ông nói.

mao-reading-stalin

Chương 33

Đến lúc Mao cũng bị phê phán. Tuy nhiên, lúc đầu chỉ là ngấm ngầm. Châu Tiểu Châu, bí thư thứ nhất tỉnh Hồ Nam, người mà Mao vẫn nghi ngờ, vì Châu đã nhắc nhở tới sự thận trọng khi tăng sản lượng nông nghiệp, là người đầu tiên chỉ trích Chủ tịch. Giữa tháng 12, khi chúng tôi rời Vũ Hán và dừng lại nghỉ ít lâu giữa chặng đường ở Trường Sa. Châu Tiểu Châu đã mời Mao xem một vở kinh kịch Hồ Nam có tựa đề Sinh tử bài. Đó là một câu chuyện rắc rối về một người phụ nữ trẻ bị buộc tội oan là đã giết người. Hải Thụy (1513-1587) một vị quan ngay thẳng đời nhà Minh (1368-1644) là nhân vật chính của vở kịch.. Ông làm việc trong triều vua Gia Kính và vào phút cuối cùng đã can ngăn việc xử trảm người phụ nữ đó. Bành Đức Hoài, vị bộ trưởng quốc phòng nổi tiếng của Trung quốc, người thẳng thắn nhiều lần dám chỉ trích trích Mao, đã xem vở kịch này vào tháng 11 khi ông đến thăm Trường Sa. Ông đã đánh giá cao vở kịch. Hải Thụy, người nổi tiếng vì tư tưởng công bằng đức tính liêm khiết và vì những mong muốn đổi mới là thần tượng trong nhiều vở kịch dân gian ở các địa phương. Tất cả những vở kịch đó đều đề cao sự quả cảm và nhân cách cao quí của vị quan đã cống hiến cả cuộc đời ông cho hạnh phúc của đất nước và nhân dân, chống lại tên vua ưa nịnh thường bị xúi bẩy. Châu Tiểu Châu chọn vở kịch này không phải là ngẫu nhiên. Chắc rằng ông tự cho mình là một quan chức trung thực, vì hạnh phúc của nhân dân và nước, nhưng ông bị một vị hoàng đế điên khùng chặn đường cản lối.
Nếu Mao có nhận ra ngụ ý ngầm chỉ trích này, nhất định ông sẽ không phản ứng. Ông thích vở kịch này và bị nhân vật Hải Thụy lôi cuốn. Ngay trong đêm đó ở Trường Sa, ông yêu cầu Lâm Khắc sưu tầm cho ông một số câu chuyện khác đã từng xảy ra trong triều đại nhà Minh nói về lòng dũng cảm và đức lính liêm khiết của Hải Thụy. Trong những tháng sau đó, ông thường khuyến khích các nhà lãnh đạo đảng hãy noi gương Hải Thụy.
Chúng tôi ở lại Trường Sa không lâu. Giang Thanh đang chờ chúng lôi ở Quảng Châu. Mao vẫn hứng thú nói về những con số số thống kê sản lượng vừa qua. Lúc này ông lại quan tâm đến công trình của nhà kinh tế học Liên-xô Leonchiev và muốn so sánh phương pháp tổ chức về kinh tế ở Liên-xô với cơ chế mới ở Trung quốc. Thế là ông gọi Trần Bá Đạt, Điền Gia Anh, và Đặng Lý Thuấn tới gặp để cùng với họ đọc cuốn sách Kinh tế chính trị của Li-ôn-chi-ép. Tại đó Điền Gia Anh cũng báo cáo lại tình hình ở Hà Nam. Lúc đó tôi không có cơ hội nói chuyện với Điền và chỉ biết rằng tình hình ở Hà Nam rất nghiêm trọng do có nạn đói. Trong những cuộc nói chuyện ban đêm với Mao, tôi nhận ra vẻ lo lắng hoàn toàn mới ở ông. Thỉnh thoảng ông tự hỏi có thật là có thể thu hoạch được mỗi mẫu (Trung quốc) mười nghìn cân thóc không? Ông cũng không tin vào chất lượng thép của những lò luyện kim gia đình nữa. Nhưng cứ khi Mao băn khoăn điều gì đấy thì những băn khoăn đó lại bị chiến dịch đại nhảy vọt lấn át. Chiến dịch này đã làm cho nhân dân tTrung quốc trở nên hăng say, trong khi Mao không muốn làm giảm đi tinh thần hăng say đó. Ông đứng về phía quần chúng và đại diện cho quyền lợi của họ. Điểm mạnh trong phong cách lãnh đạo của ông là khả năng kích động mọi người làm thức tỉnh sức sáng tạo của họ. Theo ông chính sách đại nhẩy vọt của ông đã xoáy mạnh vào khía cạnh này. Sự tự tin của ông vào việc lãnh đạo của mình vào chiến dịch đại nhảy vọt và vào quần chúng Trung quốc không có gì lay chuyển nổi.
Ngày 26-l2-1958 là ngày sinh nhật lần thứ 65 của ông. Chúng tôi nghỉ tại Quảng Châu. Đào Chu bí thư thứ nhất tỉnh Quảng Đông, đã tổ chức một bữa tiệc mừng sinh nhật Mao. Nhưng Mao từ chối: Hồi còn trẻ tôi cũng thích làm lễ sinh nhật. Nhưng bây giờ, mỗi lần sinh nhật lại nhắc nhở tôi rằng tôi đã sắp thêm một tuổi và thời gian tôi còn sống đã bớt đi một năm. Đó là một câu nói lịch sự, vì thời gian đó vẫn là những năm tháng huy hoàng của Mao. Chắc ông không nghĩ Đào Chu có ý dọa ông rằng ông đã sắp chết. Chiến dịch đại nhảy vọt không thu được kết quả như mong đợi và Mao cố gắng tìm ra nguyên nhân.
Mao sử dụng đêm sinh nhật lần 65 của trên giường. Ông cử tôi và các nhân viên khác của nhóm Một đến dự tiệc của Đào Chu. Như thường lệ, ông đề nghị sau đó tôi báo cáo với ông về buổi lễ. Bữa tiệc đã diễn ra với những món ăn kỳ quặc và những lời chúc tụng Mao cũng lỳ quặc không kém. Tôi say đến nỗi khi trở về, tôi leo ngay lên giường, chứ không đến báo cáo với Mao như mọi khi. Đến đêm khuya. Lý ẩm Kiều đến đánh thức tôi dậy. Chúng tôi phải lên đường về Bắc Kinh ngay.
Giang Thanh còn dậy sớm hơn tôi. Cơn mất ngủ hành hạ bà, và bà đã quyết định uống một cốc nước và một vỉ thuốc ngủ. Giang Thanh gọi y tá, nhưng cô này vì lẽ gì đó là không thấy đâu. Bà tới buồng trực, nhưng cô y tá vẫn không có ở đó. Bà đâm nghi ngờ và lẻn vào phòng ngủ của chồng.
Khuôn mặt yêu kiều của cô y tá mất tích đang ngon giấc trên chiếc gối kề bên Mao. Thì ra cô y tá đã để mặc mệnh phụ phu nhân trên giường và quyết định ôm ấp vị lãnh tụ kính yêu nhất.
Mao bình tĩnh nghe vợ buộc tội, chẳng thèm cãi lại, ra lệnh cho đoàn tàu quay về Bắc Kinh để mặc cho Giang Thanh chìm trong sự căm phẫn.
Chúng tôi khởi hành thủ đô trước rạng đông. Tất cả mọi việc xảy ra bất ngờ đến nỗi tôi chỉ có vài phút chuẩn bị.
Giang Thanh nhanh chóng hối tiếc về sự bồng bột của mình. Bà đã chuyển lời xin lỗi của mình cho Mao ở Bắc Kinh bằng một cách rất hài hước. Giang Thanh đưa cho chồng đọc quyển Tây du ký, tác phẩm của Vương Thừa Ân nổi tiếng ở Trung quốc thế kỷ 14. Truyện này kể về Đường Tăng nhận sứ mệnh đi vào ấn độ tìm kinh phật, giúp dân chúng tìm ra chân lý và nhẫn nhục chịu đựng. Trên đường đi, Đường Tăng lôi thêm một con khỉ tên Tôn Ngộ Không. Trong cơn giận dữ, nhà sư đó đã đuổi Tôn Ngô Không vào hang Thuỷ Liêm động. Ngộ Không lâm vào nỗi cô đơn và thất vọng, liền nói với Đường Tăng: Thân thể con ở trong Thuỷ Liêm động, nhưng tim con theo sư phụ đi khắp nơi. Mao rất mừng khi đọc những dòng thư này của Giang Thanh. Mao là Đường Tăng ngày nay của chúng tôi ông đang thực hiện một sứ mệnh nguy hiểm và đi tìm chân lý chủ nghĩa cộng sản. Những vụ bê bối của ông tương tự như những hiểm nguy trên con đường đi đến chủ nghĩa cộng sản.
Giang Thanh đã gián tiếp cho phép Mao tiếp tục những cuộc phiêu lưu tình dục của ông.

mao1

Chương 34

Đầu năm 1959, một sự hoảng hốt bao trùm thành phố Bắc Kinh. Có tin đồn sắp tới các công xã cũng sẽ được thành lập ở các thành phố. Mọi người đều nghĩ tài sản cá nhân của họ sẽ sắp phải sung công và trở thành tài sản của nhà nước. Thế là thành phố Bắc Kinh biến thành một cái trọ trời khổng lồ. Ai cũng tìm cách bán những tài sản qní giá của họ để giữ lấy đồng tiền. một khi những tài sản còn lại của họ bị sung vào công xã.
Cuộc sống của gia đình tôi sa sút trông thấy kể từ khi bắt đầu chiến dịch đại nhảy vọt và cũng vì phần lớn thời gian trong năm l958 tôi phải đi với Mao trong các chuyến công du của ông, nên tôi chẳng giúp được họ hàng nhiều. Tôi vui mừng vì cuối cùng tôi đã trở về. Mẹ tôi lo ngại bà sẽ bị cưỡng bức đi lao động ở công xã của thành phố, mặc dù bà đã già yếu và hàng ngày phải trông nom hai đứa con trai tôi trong khi vợ tôi đi làm. Nếu công xã được thành lập, thì ai sẽ chăm sóc những đứa trẻ. Mao muốn bọn trẻ đến nhà trẻ của nhà nnớc. Trong lúc tin đồn còn chưa lắng, thì người ta đã đề nghị tôi và Lý Liên, cũng như mẹ tôi và các con trai tôi, chuyển đến sống ở Trung Nam Hải. Nhưng tôi không muốn đưa gia đình tôi vào sống trong khu dinh thự đó khi chưa thật cần thiết. Đồng thời, tôi cũng cần có một nơi để tạm lánh, mỗi khi có thể được. Đối với tôi, nơi ở cũ của gia đình tôi luôn luôn là nơi duy nhất, mà tại đó chúng tôi thực sự là một gia đình, giúp chúng tôi có thể quên đi những lo âu để vui cười và tận hưởng hạnh phúc. Vì thế, tôi muốn giữ lại cho mình nơi ẩn náu này.
Mao đã nghe thấy những lời ta thán thê lương của nhân dân thành phố nên ông vội bỏ kế hoạch thành lập công xã ở thành phố. Tuy vậy, phần lớn tài sản của gia đình tôi đã bị tịch thu. Mấy vị cán bộ hay soi mói ở khu phố tôi đã phát giác rằng mẹ tôl và hai con trai tôi chỉ ở trong 5 căn phòng ở toà nhà đồ sộ có tới 3o phòng của gia đình tôi. Mẹ tôi để cho mấy người họ hàng ở trong một số phòng. Những phần còn lại được cho thuê với giá tượng trưng. Mùa đông 1957-1958 khi chiến dịch tuyên truyền mang tính chất tả khuynh lên đến đỉnh cao, chính quyền địa phương nơi gia đình tôi ở, Sở nhà cửa thành phố Bắc Kinh Sở công an đã quyết định sung công cả tòa nhà của gia đình tôi, trừ những căn phòng mà mẹ và các con tôi đang ở. Dĩ nhiên. người ta không gọi việc làm này là sung công. Mẹ tôi được đền bù vì đã tự nguyện bán toà nhà của bà và bà cũng đồng chủ nhà khi có người dọn đến ở. Mặc dù vậy mẹ tôi và tôi vẫn sững sờ vì toà nhà là di sản của chúng tôi và thuộc quyền sở hữu của chúng tôi từ nhiều thế hệ nay. Vợ tôi giục tôi hãy đến trình bày với cấp trên của tôi ở Ban Anh Ninh và Ban y tế trung ương. Có thể tôi sẽ đạt được thỏa thuận nào chăng.
Cá tôi cũng phát hoảng, nhưng tôi không thể đòi hỏi một cách giải quyết đặc biệt được. Gia đình tôi đã được luôn luôn ưu đãi trong khi hầu hết những người cùng làm việc với tôi đều xuất thân từ nông dân nghèo khó. Cấp trên của tôi chẳng có lý do gì để cho tôi tíep tục sở hữn ngôi nhà gia đình tôi – nhất là trong giai đoạn mà bâu không khí khuynh tả đang thắng thế. Có thể những cố gắng của tôi sẽ dẫn đến kết quả là tôi là lời đề nghị chuyển gia đình tôi vào ở Trung Nam Hải. Và đó lại là điều tôi muốn tránh. Vì vậy chúng tôi đành phải từ bỏ tài sản của gia đình chúng tôi. Chúng tôi chỉ còn lại những căn phòng mà mẹ và các con tôi đang ở. Người ta đã mua tòa nhà với số tiền tượng trưng đến nực cười đến nỗi có thể nói là chúng tôi đã tặng không tòa nhà cho nhà nước. Còn mẹ tôi cũng không thể tham gia ý kiến khi cần chọn lựa ai đó đến thuê nhà.
Tôi tìm mọi cách an ủi mẹ tôi và cố giải thích cho bà hiểu rằng bà vẫn có thể vui mừng vì vẫn còn căn phòng nữa, trong khi những cán hộ trong thành phố thường chật chội và đa số mọi người chỉ có hai bàn tay trắng. Vào mùa đông năm l958 – l959 này, thực phẩm trở nên khan hiếm và tình trạng của mẹ tôi ngày càng xấu đi trông thấy. Lý Liên vẫn ăn ở nhà ăn trong Trung Nam Hải mỗi khi tôi tới đó. Tôi cùng ăn với Lý Liên. Bữa ăn không có thịt, thức ăn ngày càng tệ hơn. nhưng vẫn đủ. Trung Nam Hải là nơi cuối cùng mà người ta cảm nhận được sự khủng hoảng về lưu thông phân phối phối. Mẹ tôi thiếu cả những thực phảm thiết yếu. Trước các cửa hàng thực phẩm những hàng người đứng xếp hàng rồng rắn.
Hồi đó, mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi, bà thường đau ốm hơn trước. Bà mắc chứng cao hyết áp. Chúng tôi nhờ hàng xóm đi chợ giúp mẹ tôi. Nhưng tình tạng kinh tế mỗi tháng một tồi hơn. Vậy mà Điền Gia Anh nói đây mới chỉ là bước đầu. Nông dân đã trở thành nạn nhân của sự thiếu thốn và trước mắt vẫn chưa thấy có gì khá hơn. Vì tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng, nên tôi mong Mao sẽ ở lại Bắc Kinh. Nhưng tôi đã thất vọng.
Một buổi tối cuối tháng giêng năm l959, tôi tôi thăm Hồ Kiều Mục đang nằm trong bệnh viện Bắc Kinh để điều trị bệnh lóet dạ dày tái phát. ở đó tôi nhận được lệnh khẩn: toi phải trở về nhóm Một ngay lập tức. Chắc là Mao ốm đột ngột. Tôi vọt ra ngoài, thậm chí không kịp mang theo chiếc cả chiếc áo pullover. Tôi nhảy lên xe đạp và lao ra cổng bệnh viện đúng lúc vệ sĩ Tiểu Lý đánh xe ô tô rẽ vào. Thì ra Mao quyết định đi thăm Mãn Châu. Ông muốn khởi hành ngay.
Chủ tịch đã lên đường ra sân bay khi tôi vừa về đên Trung Nam Hải. Ông đã mang theo dụng cụ đồ lề của tôi và một chiếc ô-tô đang chờ tôi. Tôi chẳng còn thời gian để gói ghém bàn chải đánh răng, chứ chưa nói đến thu xếp quần áo. Chúng tôi đến sân bay đúng lúc máy bay của Mao vừa cất cánh. Một chiếc máy bay khác đang nổ máy chờ chúng tôi. Tôi và Tiểu Lý là hành khách duy nhất của chiếc máy bay này. Khi chúng tôi vừa lên khoang thì máy bay cũng rời đường băng. Vài giờ sau tôi rời khỏi máy bay ở Tân Cương, thuộc tỉnh Liêu Ninh nơi lạnh nhất của Trung quốc vào tháng lạnh nhất của năm mà không có áo khoác không có áo pullover. Thật may, các phòng được sưởi ấm, chẳng bù cho lúc ở ngoài tôi đã bị cóng một cách thảm hại. Mao đùa:
– Đồng chí đã bán hết quần áo vì chiến dịch đại nhảy vọt hay đã quyên góp cho công xã nhân dân rồi?
Thật là phúc, chuyến công du này chỉ kéo dài 5 ngày. Chủ tịch đến miền Bắc Trung quốc vì ở đó có mỏ than lớn nhất và các nhà máy luyện kim. Ông muốn biết người ta luyện thép như thế nào và chất lượng thép của các lò luyện kim gia đình được đánh giá ra sao. Ông định bãi bỏ việc sản xuất thép để giải thoát nông dân khỏi tình trạng kiệt quệ về nhiên liệu và tước quyền bọn quan liêu trong nền kinh tế tập trung đang làm tê liệt các ngành. Nhưng Mao vẫn chưa tìm được câu hỏi mà ông thường căn vặn tôi: Tại sao các nước công nghiệp tiên tiến phương Tây lại sử dụng các cơ sở sản xuất khổng lồ, trong khi các lò luyện kim gia đình nhỏ xíu cũng có thể sản xuất được thép có chất lượng tốt? Ngoài ra, ông còn quan tâm đến việc người ta đốt nóng các lò này như thế nào. ở nông thôn, nơi mà nhiên liện trở nên khan hiếm sau khi cây rừng bị đốn hết, nông dân đã phải đốt cả cửa và những đồ đạc bằng gỗ của họ để nnôi ngọn lửa trong lò. Những nhà máy luyện kim lớn và hiện đại ở vùng Tây Bắc có một khoản dự trữ than khổng lồ nên Mao muốn tận mắt nhìn thấy các cơ sở luyện kim và các mỏ than.
Bài học mà ông thu được trong chuyến đi này là chỉ có những nhà máy luyện kim lớn hiện đại với nhiệt độ nung thích hợp chẳng hạn được đốt nóng bằng than mới có thể sản xuất thép có chất lượng cao. Thế nhưng ông vẫn không ra lệnh đình chỉ việc sản xuất thép của các lò luyện kim gia đình. Sự lãng phí to lớn sức người và sức của không làm ông lo ngại nhất. Mà Mao chẳng muốn làm nguội đi một chút nào lòng nhiệt tình của quần chúng.
Chúng tôi trở về Bắc Kinh ít lâu thì Mao lại tiếp tục đi Thiên Tân. Tế Nam, Nam Kinh, Thượng Hải và Hàng Châu. Ông mời La Thụy Khanh và Dương Thượng Côn cùng đi, vì ông muốn lợi dụng chuyến đi này để cải tạo họ.
Cả hai đã không còn được Chủ tịch quí mến như xưa nên họ rất lấy làm vinh dự khi nhận lời mời này. La Thụy Khanh, người lúc nào cũng trung thành với Mao vẫn luôn tìm cách lấy lòng Mao bằng cách ông tránh xa cơ quan an ninh và thậm chí ông còn đi bơi – Thế nhưng ông vẫn chưa lấy lại được toàn bộ lòng tin của Mao đối với ông.
Dương Thượng Côn, người vẫn còn cay cú do bị cách chức bí thư Ban chấp hành trung ương sau vụ những lá cờ đen vài tháng trước đây cũng ra sức lấy lòng Mao – ông tập trung vào những công việc hành chính thay vì những công việc chính trị, cốt tỏ ra là người giúp việc tin cẩn không hề có bất kỳ mối tham vọng chính trị nào. Do bị cô lập và cảm thấy bấp bênh, Dương đã theo Đặng Tiểu Bình người sẽ che chở cho ông trước những biến cố chính trị khó lường – Dương ít có cơ hội gặp Mao, nên ông có vẻ rất phấn khởi khi được đi cùng với Mao.

mao xếnh Xáng
Chuyến đi này lại là một chuyến đi thanh tra. Chúng tôi tới thăm các nhà máy, các trường dại học các công xã và các trường học – Các nhà lãnh đạo đảng – quân đội nồng nhiệt bắt tay Chủ tịch với những lòi ca tụng và hứa luôn trung lhành với Mao – Mặc dù tình hình kinh tế ngày một xấu đi. nhưng sự tôn sùng Mao lại tăng lên. Khi thực phẩm khan hiếm người ta không quy trách nhiệm cho Mao mà lại đổ cho giới lãnh đạo ở địa phương. Ai cũng tin rằng Chủ tịch đến để uốn nắn lại những sai lầm. Thái độ này của dân chúng đối với Mao bắt nguồn từ truyền thống của Trung quốc: vua không bao giờ sai, cùng lắm là do đám quan lại trong triều báo cáo láo hoặc cố vấn sai. ở đâu cũng có những đám đông khổng lồ đón tiếp, và chào Mao với những tràng pháo tay như sấm và tiếng hô to: Mao Chủ tịch muôn năm! Mao cho La và Dương thấy dân chúng tôn sùng ông đến mức nào và ông đã đại được mục đích của mình. La Thụy Khanh và Dương Thượng Côn rất xúc động. Với lời mời của mình. Chủ tịch đã tạo được ở Dương và La sự kính trọng sâu sắc đối với ông. Hai ông đã ngập trong ánh hào quang xung quanh Chủ tịch.
Dương Thượng Côn chỉ còn tiếc mỗi một việc là trong chuyến đi. Mao đã nói nhiều đến đề tài như có thể tổ chức các mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp như thế nào, phải xây dựng các công xã nhân dân ra sao, làm thế nào để phân phối và trả lương cho công bằng. Nhưng chẳng ai ghi lại những lời giáo hnấn của Chủ tịch. Một đêm, khi nói với La Thụy Khanh và một sự cộng sự khác. Dương nói ông luôn tìm cách ghi lại những lời nói của Chủ tịch – trong các chuyến công du qua các tỉnh. Mao thường nói về những dự định chính trị của ông, nhưng Ban bí thư trung ương chẳng nhận được thông tin gì về việc này – nên không thể ghi lại những lời phát biểu của ông, để trình bày những phương hướng chính trị trên giấy. Các cán bộ địa phương cũng gặp phải những vấn đề như vậy. Họ có thể gửi những bài bình luận của Mao tới các cấp cao hơn – đến Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình – nhưng nếu không có những văn bản chính thức thì chẳng ai muốn truyền đạt lại chính sách với những thông tin từ các tỉnh gửi về. Dương Thượng Côn nói: Chúng ta phải nghĩ xem làm thế nào chúng ta ghi lại được lời Chủ tịch nói và có thể nộp tất cả các biên bản cho Ban bí thư trung ương để rồi họ đánh giá phân tích. Đó là sáng kiến độc đáo của một cấp dưới vốn không quên ơn Chủ tịch.
Diệp Tử Long kể với tôi. Dương đã đề nghị ông ta xin Mao cho ông mang theo một người ghi tốc ký trong các chuyến công du sau này. Như vậy. trung ương sẽ có biên bản đày đủ về những lời nói của Mao – nhưng Mao không muốn có người ghi tốc ký. Ông coi những ý kiến của ông chỉ là phụ và ông cũng biết lời nói của ông có sức mạnh – Cả đất nước Trung hoa vội vã thành lập công xã nhân dân khi Mao vừa mới tuyên bố: Công xã thật là tuyệt. Ông không mnốn một nhận xét tình cờ bỗng nhiên lại trở thành một chính sách cụ thể và như vậy trách nhiệm sẽ quá lớn. Ngay sau đó một toán nhân viên kỹ thuật của cơ quan công an đã lên đoàn tàu của Mao để lắp máy nghe trộm trong toa ngủ của ông và trong phòng khách. Những chiếc microphon nhỏ xíu được gắn trong các chụp đèn, đèn treo tường và trong các lọ hoa để Mao không phát hiẽn được.
Những chiếc microphon này được nối với một máy ghi âm ở một toa khác nơi có một nhân viên kỹ thuật trẻ tên là Lưu làm việc. Anh ta thu ráp nối các cuộc nói chuyện và bảo quản hệ thống máy móc này. Mao không bao giờ biết nhiệm vụ của Lưu là gì, nhưng chàng trai trẻ này theo chúng tôi đi khắp nơi trong các chuyến công du – Sau này Diệp Tử Long cho tôi biết người ta cũng đã gắn những máy như vậy trong các nhà khách ở các tỉnh mà Mao thường hay lui tới. Những nhân viên nhóm Một chúng tôi có nhiệm vụ phải giữ bí mật tuyệt đối. Việc nghe trộm Chủ tịch như Diệp Tử Long cho chúng tôi biết là do thượng cấp quyết định. Nếu bí mật này bị tiết lộ hậu quả sẽ rất khủng khiếp. Tất cả chúng tôi đều phải nín lặng. Đảng đã ra lệnh chúng tôi phải chấp hành. Không một ai trong chúng tôi biết quyết định này sẽ mang lại tai họa như thế nào.

mao

Chương 35

Khi hội nghị trung ương đảng lần thứ 7 khóa 8 diễn ra từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 4 năm 1959 ở Thượng Hải. Mao vẫn luôn tỏ ra lạc quan. Lòng tin của ông vào đại nhảy vọt và vào công xã nhân dân vẫn không thay đổi – Tuy chiến dịch đại nhảy vọt đã vấp phải một số vấn đề nhỏ nhưng có thể giải quyết được. Cơ cấu tổ chức của các công xã phải được hoàn thiện có nghĩa là phải định ra chính sách điều tiết sức lao động giữa các lò luyện kim gia đình và sản xuất nông nghiệp. Mao đã kéo quá nhiều đàn ông khỏe mạnh khỏi công việc đồng áng. Phương thức trả lương ở các công xã được điều chỉnh và các khoản thuế cũng phải được giảm bởi bớt sao cho hợp lý hơn.
Lo ngại lớn nhất của Mao không phải là thiếu lương thực, những chỉ tiêu kế hoạch quá cao hay những lò luyện kim gia đình đã phung phí quá nhiều sức lao động và tạo ra vô số phế phẩm, mà ông lo nhất là tính sáng tạo của quần chúng đã được phong trào đại nhảy vọt cởi trói sẽ bị kìm hãm. Nếu ông nhận thức được rằng đất nước sẽ đang tới gần một thảm họa, thì không bao giờ ông để lộ suy nghĩ này. Tôi cũng luôn cho rằng những vấn đề hiện tại chỉ là tạm thời. Đó là hậu quả do khó khăn trong việc liên lạc với các cấp cơ sở ở địa phương. Tôi đồng ý với Mao và bỏ ngoài tai mọi dư luận bên ngoài.
Trong thời gian Hội nghị họp ở Thượng Hải. Mao ở trên đoàn tàu của ông. Vĩ một là ông không ưa cách bài trí trưởng giả trong nơi ở cũ của Silas Hardoon: hai là ông vẫn quan hệ với có Tiểu Lý, y tá đi theo đoàn tàu đặc biệt của ông. Tối nào ông cũng đi với Tiểu Lý đến câu lạc bộ Tân Cương vốn là của Pháp trước đây và bây giờ trở thành nơi đàng điếm sang trọng dành cho các cán bộ cao cấp.
Biết Mao đặc biệt sủng ái giới nữ nên cơ quan an ninh địa phương đã bố trí để Mao gặp các nữ diên viên và nữ danh ca nổi tiếng nhất của Thượng Hải. Thế nhưng Mao chẳng hề để mắt đến những phụ nữ này. Đối với Mao. họ quá già và biết quá nhiều – Mao chỉ thích những cô gái trẻ, thơ ngây vì họ dễ xiêu lòng hơn – Thế là tối tối cơ quan an ninh thành phố Thượng Hải lại phải đưa các thiếu nữ từ các đoàn văn công đến trình diễn cho Mao xem.
Kha Thanh Thế cũng cho trình diễn một vở kinh kịch nữa về Hải Thụy. Năm ngoái, khi Mao ở Trường Sa, câu chuyện về nhân vật này đã từng gây ấn tượng mạnh đối với ông – Trong vở diễn, Hải Thụy đã phải ngồi tù vì ông phái hiện ra một cách trơ trẽn rằng cái tên của vua là Gia Tĩnh lại có nghĩa là vua sẽ đưa nhân dân đến tai họa. Lúc đầu vua dọa sẽ xử trảm Hải Thụy nhưng sau khi đọc lá sớ giải thích của viên quan này lần thứ hai rồi lần thứ ba cuối cùng vua nhận ra rằng Hải Thụy là một người trung thực và cương trực, sẵn sàng quên mình vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy Hải Thụy vẫn bị giam trong ngục, nhưng vua đã bãi bỏ án tử hình đối với ông. Một hôm, người coi ngục mang đến cho Hải Thụy một bữa cơm rất thịnh soạn. Viên quan này tưởng rằng đây là bữa ăn cuối cùng của người tử tù. Nhưng khi ông vừa ăn xong, thì người cai ngục liền chúc mừng ông và báo cho ông biết tin vua đã băng hà. Hải Thụy, người thực sự trung thành với vua, đã buồn đến nỗi ông đã nôn hết những gì ông vừa ăn. Một lần nữa Mao lại thán phục Hải Thụy, Mao bắt đầu quảng bá tư cách của Hải Thụy bằng cách cho in tiểu sử Hải Thụy và phân phát cho những người tham dự Hội nghị. Ông hối thúc họ noi gương Hải Thụy. Sau này ông đề nghị các nhà sử học phải nghiên cứu kỹ hơn nữa về Hải Thụy và các bài viết của họ đã được đăng trên các báo chí cả nước. ở Thượng Hải và Bắc Kinh người ta đã dàn dựng những vở kịch hiện đại Hải Thụy khiến viên quan đời nhà Minh này trở thành người anh hùng của dân tộc.
Lòng ngưỡng mộ của Mao đối với Hải Thụy cũng tiềm ẩn nỗi trớ trêu – Cũng vì sau này nhân vật Hải Thụy trở thành một biểu tượng chủ yếu của sự bất bình đối với chiến dịch làm trong sạch đảng, chống lại Bành Đức Hoài và đối với việc khởi đầu của cách mạng văn hoá nên tôi thường ngẫm nghĩ ý nghĩa của nhân vật này đối với Mao. Tính khí của Mao thật phức tạp và đầy thuẫn. Cũng như vua, Mao tin là ông không hề làm gì sai trái – Nếu có một quyết định nào sai, thì lỗi không phải ở ông, mà chỉ vì ông nhận được tin tức sai. Vua không hề nhầm lẫn được, nhưng vẫn có thể bị lừa.
Mao đặc biệt thích Hải Thụy vì ba lý do: Hải Thụy chỉ nói sự thật, luôn trung thành với vua và mặc dù bị kết án oan, ông chịu chết không một lời phản kháng để giữ tiếng cho vua và giữ hạnh phúc cho nhân dân. Hải Thụy không đổ lỗi cho vua mỗi khi có việc gì đó không thành, mà quy tội cho bọn quan lại lừa lọc và đồi bại.
Mao cũng muốn người ta luôn nói sự thật với ông. Mặc dù đến nay tôi đã tỉnh ngộ nhưng tôi vẫn thường cho rằng nếu Mao biết được toàn bộ sự thật ngay từ khi chiến dịch bắt đầu thì ông đã ngăn chặn ngay sự tiến triển đày tai họa này từ rất sớm. Tuy nhiên, phải có một Hải Thụy hiện đại có những điều kiện của riêng ông ta thì mới có thể nói cho Mao biết được sự thật. Nhưng Mao lại không thể chấp nhận được sự thật, nếu sự thật đó chứa đựng những lời chỉ trích ông, hoặc bắt nguồn từ những quan chức thâm hiểm, có lẽ, cũng đang thèm khát quyền lực của ông. Cho nên, nói cho ông biết sự thật là nhiệm vụ của những người không có tham vọng chính trị.
Nhưng chỉ có rất ít người như vậy leo đến được chức vụ cao trong bộ máy quyền lực chính trị. Trong thực tế hầu như chẳng có một cán bộ nào không thành kiến, không vụ lợi mà lại dám sẵn sàng đứng ra vì hạnh phúc của đất nước. Vì Mao biết quá rõ lịch sử Trung quốc với tất cả các cuộc phân tranh quyền lực và các thủ đoạn chính trị – nên ông cũng đã tính đến những âm mưu trong triều đình của ông và chính ông cũng tham gia trò choi này.
Như vậy việc Mao khuyến khích người noi gương Hải Thụy cũng như như việc ông kêu gọi trí thức phê phán đảng đều nằm trong chiến lược có chủ định của riêng ông. Ông muốn nghe sự thật từ những người tuyệt đối trung thành với ông và không hề có tham vọng chính trị. Tuy nhiên việc Mao đề cao Hải Thụy là một xảo thuật để nhử kẻ thù bò ra khỏi hang. Cũng như vua, Mao tự cho mình được độc quyền phán xét xem ai là thuộc hạ trung thành, ai là người chỉ phê phán vua để củng cố quyền lợi của chính người đó. Nhưng lập luận của Mao vẫn có những kẽ hở. Trong khi Mao đánh giá rất cao những ông vua như Tần Thủy Hoàng, vua Chu, vua Tùy Dạng, những ông vua mà nhân dân căm giận nhất, thì đa số những người đã đọc truyện về Hải Thụy đều coi những ông vua đó và cả vua Gia Tĩnh là những kẻ tàn bạo và bất công. Nhiều thuộc hạ thân tín của Mao tỏ ra sẽ trung thành với Mao như Hải Thụy trung với vua. Mao khẳng định rằng hẳn là những cán bộ cấp dưới đã nói dối vì họ phải chịu sức ép từ trên xuống và do đó họ đã phê bình cả những nhân viên của chính họ. Nhưng sức ép đó lại chính do Mao gây ra. Năm 1958, ông quy cho những người đã phê phán ông là hữu khuynh và trừng phạt họ một cách không thương tiếc. Sau đó, ông thường lôi kéo đảng vào những chiến dịch mới và khích cán bộ lãnh đạo phải nâng cao chỉ tiêu sản xuất. Chính ông đã tạo ra bầu không khí khiến các nhà chính trị khác khó có thể nói lên sự thật và các cán bộ cấp cao của đảng vì trung thành hoặc vì sợ ông mà phải theo ông. Mao không nhận thấy sai lầm của chính ông ở những cán bộ lãnh đạo khác của đảng ở đám quan lại đồi bại trong triều đình Gia Tĩnh. Lòng hâm mộ Hải Thụy của ông còn giúp ông đổ lỗi của mình cho người khác. Tuy nhiên, những người như Châu Tiểu Châu lại hiểu lịch sử một cách khác. Họ là những người như Hải Thụy thuộc hạ tin cẩn của Mao, họ đã bị kết tội và bị phạt oan, khiến Mao không còn là một ông vua xứng đáng của họ nữa.
Giữa tháng 4 năm 1959, chúng tôi trở về Bắc Kinh để dự kỳ họp thứ nhất của Đại hội nhân dân toàn quốc khóa hai – tức là Quốc hội ở Trung quốc. Hội đồng nhân dân – theo chỉ thị của ủy ban trung ương đảng, chấp thuận việc Mao xin từ chức Chủ tịch nước và bầu Lưu Thiếu Kỳ lên thay. Còn Chu Đức vẫn tiếp tục điều hành ủy ban Thường vụ Hội đồng nhân dân. Tống Khánh Linh và Đổng Bích Vũ được bầu làm phó Chủ tịch nước.
Việc Mao từ chức và bầu Lưu Thiếu Kỳ vào chức vụ trên đã đươc dự định từ lâu và sự thay đổi này cho đến lúc đó vẫn chưa được công bố. Đến lúc này, cả hai chức được goi là Chủ tịch – Chủ tịch đảng cộng sản Trung quốc Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa – đều trong tay Mao và chỉ có một mình Mao có chức danh này. Từ khi bổ nhiệm Lưu Thiếu Kỳ giữ chức Chủ tịch nước ở Trung quốc nơi mà chức danh được coi là quan trọng, có hai Chủ tịch. Điều này khiến Mao không chịu được. Việc Trung quốc có hai Chủ tịch trong khi Mao vẫn nắm quyền tối thượng đã kéo theo những hậu quả chính trị mà tôi và đa số nhân dân Trung quốc lúc đó không thể lường hết được. Thế nhưng trận đấu của Mao để đoạt lại quyền giữ chức Chủ tịch duy nhất của Trung quốc đã bắt đầu và sẽ được kết thúc bằng sự sụp đổ của Lưu Thiếu Kỳ với việc ông bị phế truất khỏi chức Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa.
Chúng tôi ở lại Bắc Kinh một tháng và cuối tháng chúng tôi lại lên tàu xuôi xuống miền Nam Trung quốc.

mao xếnh Xáng1

(Còn tiếp)

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.