Đọc tiếp “LY THÂN “của Trần Mạnh Hảo(Chương 14,15,16 va17)

Ly Thân

TMH

Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Thể loại: Tiểu thuyết
CHƯƠNG 14 –
Xếp của tôi, một quan chức van nghệ có cỡ, gọi tôi lên nhân chuyện tôi xin về Hà nội thăm gia đình. Ông hơn tôi mười tuổi, cỡ năm mươi tám, người nhỏ thó nhưng bụng lại phệ, mặt mũi hồng hào, luôn có nụ cười nửa mùa trên mép, hay xét nét người khác nhưng lại làm vẻ hào phóng và độ lượng. Ông ta thuộc loại nhà văn hạng ba, tức là dưới tôi một hạng. Tuy nhiên, vì ông làm lãnh đạo, nên đương nhiên được xếp vào hạng nhà văn thứ nhất. Tuy văn ông ta dở lắm, song le lại cứ thích sửa văn cho tôi. Rằng cậu viết thế này chưa sâu, chưa đạt được tầm cao tư tưởng thời đại. Rằng đoạn này cần phải say khướt thì cậu lại đánh queo, đoạn kia cần lạnh lùng sắc sảo thì cậu lại tít cung mây…
Ông chưa thấy tôi vô đã cười hì hì:
– Đã quá Trần Hưng ơi. Chín năm xa vợ con, chuyến này về chỉ có nước cảm động ngất xỉu luôn. Chúng tớ bố trí cho cậu đi máy bay đây. Nhà văn nổi tiếng cần phải bay trên bầu trời đất nước sau ba mươi năm chiến tranh chứ.
– Tôi đi máy bay rồi anh Ba ạ. Nhưng bây giở tôi xin đi đường bộ, có người bạn ra Hà nội cho đi nhờ xe con.
– Dại, máy bay không đi, lại đòi đi ô tô.
– ấy cũng đến xin anh cái giấy đây.
– Giấy tờ ông chúng tôi làm đủ rồi mà.
– Anh cho tôi xin cái giấy giới thiệu với địa phương Quảng Bình xin xây mộ cho người thân.
– Ai vậy?
– Em gái.
– Viết liền, tên gì?
– Vũ Thị Oanh, liệt sĩ bác sĩ hy sinh năm 1965.
– Cậu họ Trần cơ mà.
– Vậy thì cứ bắt tất cả em tôi đều họ Trần như tôi ư? Báo cáo anh Ba, Oanh là em con cô con cậu ruột, lại là con nuôi của bố mẹ tôi. Thành ra hai lần em đấy.
– à!
Tôi phải nói dối mới xin được cái giấy giới thiệu xin phép xây mộ cho người yêu. Mừng quá. Tôi toan chào xếp mai lên đường thì ông bảo:
– Ưu tiên cho cậu đây. Đảng đào tạo cán bộ quản lý văn nghệ.
Xếp giúi vào tay tôi cái giấy cho đi học trường chính trị trung cao cấp ngắn hạn hai năm.
Tôi giật bắn người. Tôi mà lãnh đạo thế chó nào để được đi đào tạo. Chắc là trung ương ép xuống, chẳng có ma nào chịu đi, người ta đẩy tôi đi cho yên chuyện. Sài gòn vừa giải phóng, nhà cửa tiện nghi như thiên đường, dại gì ra Hà nội sống chui rúc chật chội. Từ Đồng Hới, tôi xuống trình ủy ban tỉnh xin phép xây mộ cho người thân. Trước khi đi, tôi đã lấy được tiền nhuận bút hai cuốn sách một vừa in ngoài Hà nội, một vừa in trong Sàigòn. Từ Đồng Hới, tôi qua các chặng xuống huyện rồi xuống xã, và cuối cùng đã tới quả đồi có Oanh yên nghỉ. Oanh vẫn nằm đó, chẳng đi đâu. Nấm mộ chỉ còn khum khum như một cái mu rùa, giống hình cái mũ cối gài lá ngụy trang. Tấm bia bằng gỗ đã mục, chỉ còn trơ ra một cái cọc đen đen như bàn tay cái chết chìa lên xin phát biểu ý kiến. Tôi đã già đi, bốn mươi tám tuổi rồi. Nàng thì vẫn ba mươi sáu tuổi, trẻ mãi. Trong thời gian xây mộ cho Oanh, tôi ở trọ trong nhà một người đàn bà góa, tuổi cỡ chưa đến bốn mươi nhưng già xọm đi trước tuổi nhiều.
ở cái làng cát Quảng Bình gần ngã ba quốc lộ này, hầu như đàn ông thanh niên đã hy sinh gần hết, hoặc đi đánh giặc chưa kịp về, nên toàn chỉ có đàn bà con gái. Tôi ở bên cạnh Oanh, chờ cho ngôi mộ xây khô cứng mới trở ra Hà nội. Tôi tìm đến căn phòng cách đây chín năm tôi đã ra đi.Tôi gõ cửa và hồi hộp chờ đợi. Một cô bé mười lăm tuổi xinh xắn, mắt to đen nhánh, lặng đứng nhìn tôi. Tôi suýt ứa nước mắt: con gái mình đây. Gương mặt của nó đúc ra từ gương mặt mẹ tôi. Tôi sung sướng đến lặng người. Hóa ra mẹ tôi đã sống lại trong cô cháu nội này. Tôi vẫn đứng lặng. Đứa con gái nhìn tôi trân trân:
– Thưa, bác hỏi ai ạ?
Nó không nhận ra cha mình. Khi tôi đi, con bé mới lên sáu tuổi. Tôi lặng người một lúc, bỏ ba lô xuống hỏi bình thản:
– Mẹ với anh Văn đâu?
Nó vẫn không nhìn ra bố mình:
– Thưa bác, mẹ cháu đi công tác dưới tỉnh tháng sau mới về. Còn anh Văn đi đă bóng ạ. Tôi không còn bình tĩnh được nữa, hỏi:
– Vương Thi, con không nhận ra bố à? Nó ngước mắt nhìn tôi chớp chớp. Đoạn nó khóc òa, nhào đến ôm chầm lấy tôi kêu bố. Hai bố con vào nhà. Vương Thi vẫn còn sụt sịt:
– Vậy mà mẹ bảo bố không về nữa.
Gần tối, thằng Trần Văn Văn mới về. Nó đã mười tám tuổi, cao bằng bố rồi. Nó không tỏ ra cảm động như đứa con gái, mà đối xử với tôi như cánh đàn ông với nhau. Suốt một tháng trời, tôi sống với hai đứa con thật hạnh phúc. Chiều chiều, tôi chở Vương Thi trên xe đạp, thằng Văn đạp xe theo, đi hết phố này đến phố khác. Khi tôi nộp giấy tờ để vào trường trung cao chính trị thì Ruộng đi công tác địa phương đã về. Ruộng bước sang tuổi bốn mươi ba. Tôi không ngờ cô lại béo ra đến mức ục ịch thế. Hồi trước, người thon thả, nhìn Ruộng còn thấy đỡ. Giờ cô phình ra trong cái tuổi trung niên tứ tuần, trán đã nhăn, cằm đã sệ, hông chẳng còn một tị eo óc, y như một bà nhà quê ra tỉnh bán bánh đúc mắm tôm. Gặp lại chồng sau chín năm xa cách, Ruộng không khóc, không cười. Cô cũng không tỏ ra mừng rỡ quá hay lạnh nhạt quá. Cô chăm sóc chúng con hết nghĩa vẻ người vợ. Nhìn cô, sao tôi luôn luôn nghĩ đến nắm mồ của Oanh. Tôi buồn buồn nhưng không tỏ ra lạnh lùng với cô, tội nghiệp. Xét ra, trong thời gian tôi đi B, cô có lỗi gì đâu. Cô nuôi nấng dạy dỗ con cái học hành đến nơi đến chốn. Nhưng nghĩ đến cuốn nhật ký ngày xưa, tôi thấy cô mà ghê ghê sờ sợ. Hay cô là công an mật vụ chìm được cấp trên gài vào giả vờ làm vợ để theo dõi tư tưởng và hành tung của tôi? Tôi mừng cho sự tiến bộ của Ruộng. Từ một cô gái học lớp bốn bình dân học vụ hồi cải cách ruộng đất, giờ đây cô đã có bằng đại học chính trị, đã là cán bộ đảng với chức vụ khá cao, từng sang nước ngoài nghiên cứu sinh, từng đi các địa phương giảng chính trị. Địa vị xã hội của cô đâu phải chuyện đùa. Vậy mà, cái số cô đen đủi, tổ chức lại làm mai cho để lấy phải cái thằng tôi. Cái thằng mà trái tim nó đã trót tặng cho một cô gái khác. Nếu Ruộng lấy một người khác chứ không phải tôi, chắc chắn cô đã có hạnh phúc. Chỉ tại ông Tổ chức xe lầm duyên cho cô. Tôi biết Ruộng yêu tôi thực sự. Vì vậy, cô mới khổ sở vì ghen tuông với Oanh. Đêm đầu tiên sau chín năm xa cách, nằm bên vợ mà hần vía tôi để ở cái đời cát Quảng Bình. Nghe vợ nói ríu ran bên tai mà tôi chỉ thấy Oanh. Cô may một bộ đồ pigiama màu đỏ rực, còn mới toanh, bảo chờ tôi về mới mặc. Cô bảo màu đỏ này là màu cách mạng, mặc nằm ngủ bên chúng con sẽ ấm áp hơn. Ruộng bảo cái thứ váy, rốp hớ hênh chỉ dành cho bọn bóc lột. Rằng giai cấp vô sản là cứ phải kín đáo, dứt khoát không có khoe đùi hay khoe vú như mấy con nặc nô tư sản. Trong những lời tâm tình với chồng con, vợ tôi thường dùng những từ ngữ của các bài giảng chính trị. Chẳng hạn khi sinh hoạt, ăn uống, cô hay xài mấy từ như tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn nọ… Người đi theo lý thuyết về sự công bằng xã hội nhưng lại đẻ ra quả nhiều thang bậc khi hưởng thụ như sổ nọ, sổ kia, phiếu A, phiếu B, ưu tiên một, ưu tiên hai, cho đến ăn uống miếng thịt miếng cá còn chia ra tiểu táo, trung táo, đại táo… từ bệnh viện, cửa hàng, nhà ăn, phòng chiếu bóng, sân khấu cũng đều theo cắp bậc sang hèn thì lạ thật. Tôi như một tảng băng nằm bên cạnh bà vợ sồn sồn.
Nửa đêm, Ruộng ôm lấy tôi khóc. Tôi hiểu lắm chứ. Bốn mươi ba tuổi đầu, xa chúng đã chín năm nín nhịn. Giữa cái tuổi hời xuân bốc lửa, lại có phần béo tốt khỏe mạnh, sự khao khát hạnh phúc bao năm như ngọn thác bị chặn lại. Giờ thác vỡ bờ là cái lẽ dĩ nhiên. Tôi tự rủa mình: mày là đồ tàn nhẫn, chẳng ra mặt đàn ông. Cô ấy có phải là vợ mày đâu nào. Cô ấy giờ chỉ còn là nắm đất. Vợ mày đó, kẻ như đang chết đuối trên biến hạnh phúc vừa nam tay được vào cái cọc kia. Nhưng không phải cái cọc mà là một sợi bún, Ruộng đang có cơ bị chết đuối thật sự. Nước mắt của vợ đã làm tảng băng của tôi tan dần. Tôi an ủi, động viên khen ngợi cô. Tôi lau nước mắt cho cô, rồi hôn hít vuốt ve, tình tứ lắm. Người Ruộng bồng bềnh như một núi hla. Nbưng trời ơi, sao tôi vẫn là một tảng băng, là một sợi bún? Suốt hai tiếng đồng hầ, dù tôi cố hết sức mình, dù Ruộng có vuốt ve động viên tôi rất dịu dàng, mùi mẫn, tôi vẫn không sao làm được chuyện đó với cô. Gần hết đêm đó, vợ tôi đã dùng hết cách, tôi đã dùng hết cách, đã tập trung lấy lại nội lực, đã tự nhiên, đã bình tĩnh nhưng tôi vẫn chẳng làm được cái nghĩa vụ cuối cùng của một người chồng đối với vợ sau chín năm đi B. về. Hai ngày hôm sau cũng vậy, dù vợ tôi mua bao nhiêu trứng gà con so, cả huyết chim sẻ về pha rượu cho tôi uống, nhưng người đàn ông trong tôi vẫn không chịu thức dậy, vẫn lịm ngủ như một con gà rù. Đến ngày thứ ba thì Ruộng hỏi:
– Sao vậy anh?
– Anh đâu có biết.
– Hay là vì anh không yêu em nên nó không hứng khởi, không lên được… Em biết anh chỉ thương hại em mà thôi. Anh đâu có yêu gì em.
Tôi vừa buồn vừa tức, vừa xấu hổ với vợ. Ruộng lại khóc thút thít. Tội nghiệp Ruộng quá. Dù sao, cô ấy cũng là vợ tôi, đã sinh cho tôi hai đứa con đẹp đẽ khỏe mạnh. Trước nay tôi là người đàn ông bình thường cơ mà? Hay là, do chín năm ở rừng rú, đói khát, sốt rêt, bệnh tật, cộng với một tâm lý đau khổ tự dằn vặt khôn nguôi về nỗi bất hạnh của hai người đàn bà tôi đã gây ra, khiến tôi bị tổn thương về sinh lý, để giờ đây thành ra kẻ bắt lực? Hay là hồn vía Oanh đã ám tôi, mang toàn bộ sinh lực của tôi về thế giới bên kia? Ô hay, tôi từng tuyên bố rằng tâm hồn tôi, trái tim tôi đã được chôn vùi cùng với thân xác Oanh là gì.
Suốt mấy tuần sau, tình trạng của tôi cũng không khá hơn gì. Nghĩa là người đàn ông trong tôi vẫn chưa tỉnh thức, vẫn ỉu xìu như bánh đa nhúng nước. Ruộng buồn bã, đêm nằm khó ngủ, thở dài thườn thượt. Tuy vậy, có lần Ruộng an ủi tôi, ngay lúc này, tư duy của cô vẫn còn nặng mùi chính trị:
– Thôi anh ạ, ta sẽ đi khám bác sĩ. Nhưng cần gì chuyện đó, mi~n là ở bên nhau thôi anh ạ. Giai cấp vô sản sinh ra để làm cách mạng thay đổi thế giới, chứ không phải để chăm chăm làm cái chuyện chăn gối đáng xấu hổ ấy đâu.
Ruộng dẫn tôi đến một bà bác sĩ chuyên về bệnh sinh lý và tình dục. Sau mấy ngày khám xét, bà bác sĩ bảo vợ tôi về đại thể, bộ máy của thiên nhiên trong tôi hiện tượng thì có lúc khiếm khuyết thật, nhưng cơ bản mà xét thì vẫn cứ tốt. Tự bản thân, tôi cũng biết điều đó. Bà bảo Ruộng là do tôi bị mắc bệnh về tâm lý về thần kinh, cái trí không an nên ảnh hưởng đến đời sống sinh lý. Bà bác sĩ bảo nhỏ vào tai vợ tôi, sau này cô ấy thuật lại rằng nó chỉ hỏng khi cần thiết, còn những lúc bình thường, kể cả khi ngủ có khi vẫn cứ chạy tốt… Điều đó thì tôi xác nhận là hoàn toàn đúng. Ruộng lại tìm cho tôi mấy ông đông y giỏi nhất Hà nội, cắt cho tôi bao nhiêu thuốc bổ dương, phù thận. Cô ngâm cho tôi một hũ rượu toàn vị quái quỷ. Nhưng rổt cuộc, tôi vẫn chẳng làm nên cơm cháo gì. Từ đó tôi thấy tính tình Ruộng dần dần đổi khác. Cô hay cáu gắt một cách cực kỳ vô lý. Hơi một tí là cô lên lớp chính trị, chỉnh chồng con ra trò, hét tướng lên như mụ tam bành ấy.
Hôm tiễn cô đi học chính trị bên Liên Xô, tôi bảo:
– Em ạ, anh bị như vậy là tội em lắm. Em không có hạnh phúc. Sang bên ấy, anh cho phép em hoàn toàn tự do. Em cần phải sống cho mình một chết. Gặp người nào vừa mắt, em cứ tận hưởng đi. Anh mong em được sung sướng. Nếu sau này về nước, có ai yêu thương, em cứ sống với họ. Anh không hề có ý kiến ý cỏ gì cả. Anh cho em hoàn toàn tự do.
Vợ tôi gào lên:
– Anh muốn ruồng bỏ tôi phải không? Tuổi già như tôi, không còn đẹp nữa, lại làm công tác chính trị thì làm sao còn người nào có thể yêu thương nổi. Anh xui tôi đi với trai để anh tự do rồi anh xin ly dị cho dễ à. Trời ơi, chồng ơi là chồng. Anh giả vờ bị bất lực với tôi để mong tôi chản thả anh ra phải không? Đừng có hòng. Khi nào con Ruộng này còn sống trên đời, thì chừng đó anh không giở trò trống gì được đâu nhá. Anh đừng hòng bịp được tôi, đừng hòng thoăt khỏi tay tôi.
Tôi vẫn dịu dàng:
– Nhưng anh thương hại em.
– Không khiến.
– Anh nói một lần nữa, nếu ai thương em, em cứ việc tự nhiên. Nhất là sang bên Tây, cái chuyện đàn ông đàn bà nó bình thường như ăn cơm uống nước ấy mà.
– Ruộng nghiến răng, trợn mắt:
– Anh là chồng tôi mà lại đi xui tôi ngoại tình à? Đồ phản đảng.
CHƯƠNG 15 –
Số tôi rốt cuộc có ai ngờ vậy mà sướng mới vui chứ. Bạn bè trong ngoài giới gặp tôi bắt tay xong đều chép miệng: nhất anh. Tôi cười cười nghĩ bụng, không nhất thì cũng cóc có ai hơn. Điều gì xảy ra mà tôi đã vội vênh mặt lên vậy? ối dào thư thả, tôi sẽ kể cho các bạn nghe. ở đời, khi cái may nó tới, có lúc ngăn không kịp, đóng cửa vào, nó vẫn tràn qua khe cửa, thẩm thầu qua tường mà vô. Lúc đó, chẳng cần anh phải há miệng, sung nó vẫn cứ rụng vào thấu dạ dày. Từ cuối năm 1979 đến nay, tôi đúc ra được một điều hay lắm: ừ, khi anh có tài thì cũng tốt đấy, nhưng nếu không nắm được quyền lực trong tay, cái tài ấy, xin lỗi quý vị nhá, cũng cú coi như đồ bỏ. Bởi vì, nếu anh không có chức có quyền mà lại cả gan có tài, coi như tự rước họa vào thân. Cứ thể lấy vài ví dụ trong địa hạt văn chương, cỡ như bác Đỗ Phủ bên Tàu xưa ai dám bảo là không thiên tài nào, người ta gọi là thánh thi khi bác còn sống đấy. Vậy mà bác thi sĩ Đỗ Phủ đã phải chết đói trên thuyền. Chung quy bởi vì dù bác là thánh thi chăng nữa, nhưng không có một tí quyền trong tay, may là không bị chém đầu. ở ta, như bác Tú Xương tài thơ ai hơn nào? Nhưng suốt đời bác Tú Xương rách như tổ đỉa, đói khát đến ma chê quỷ hờn vì thi mãi không đậu, nằm mơ cũng chẳng thấy mình làm quan. Hoặc gần đây, như bác Nguyễn Bính, một nhà thơ lớn với những dòng lục bát mượt như ca dao, khiến dân gian thuộc làu như thuộc kinh vậy. Nhưng đời bác Bính trào nào cũng rứa, chỉ là cái anh không xu dính túi, bị đám cầm quyền hành cho tàn đời, cuối cùng khi chết, miệng vẫn còn thèm cơm. Tôi có thể lấy ra hàng nghìn dẫn chứng như vậy không phải để minh họa cho thuyết tài mệnh tương đố đã từng ám ảnh bao thời, từng làm bạc tóc Nguyễn Du. Tôi xin mạn phép góp ý với hương hồn các vị thiên tài trong quá khứ rằng, các vị sở dĩ cực, sở dĩ chết đói, chết chém chung quy vì các vị không tìm cách nắm lấy quyền lực, cái mà ngày nay người ta gọi là cán bộ lãnh đạo chính trị ấy mà. Ơ hay, đi sau kể ra cũng có cái lợi, học được những bài học nhãn tiền không phải trả học phí. Thật là câu hậu sinh khả úy nghe ra cũng có lý lắm. Tài thì dù mọn đi chăng nữa nhưng tôi cũng đã có, mà quyền hành thì chưa. Nhưng nay thì thời thế đổi rồi các bạn ạ. Tôi vừa được đề bạt làm cán bộ lãnh đạo. Các bạn thông cảm cho tôi, tôi đã theo chủ nghĩa khiêm tốn mấy chục năm rồi, làm thân con sâu cái kiến biết cầm bút mấy chục năm rồi. Sau hai năm học xong khóa chính trị trung cao, năm 1979, tôi và gia đình được điều vào miền Nam công tăc. Tôi leo lên máy bay, ngồi một lúc đã thấy tới Đà Nẵng. Mấy ông cán bộ chính trị ngồi bên tôi sướng quá, chuyện vãn quá rôm rả. Họ bàn luận đủ điều về một tương lai tươi sáng, về tốc độ tiến lên chủ nghĩa xã hội vùn vụt đâu có kém tốc độ máy bay. Rằng, mới đây, đầu năm 1976, tại thành phố Nam Định, lãnh tụ đã hứa: chỉ vài năm nữa thôi, đảng sẽ lo cho gia đình nào cũng có ti-vi, tủ lạnh. ừ phải tiến như vậy cho Mỹ nó sợ chứ, cho Tây, Nhật đừng khinh chúng ta không biết làm kinh tế chứ. Về đến cơ quan, tôi được thủ trưởng giao nhiệm vụ:
– Đồng chí có biết quốc sách của ta hai năm qua cụ thể là gì không?
Tôi hùng hồn trả lời theo kiểu học sinh trả bài:
– Là đánh tư sản, thu sạch sành sanh các cơ sở kinh tế của chúng, gom vào kinh tế quốc doanh. Cái đám tư sản mại bản kia chỉ có tài bóc lột, còn làm kinh tế thì dở ẹc phải không anh?
– Thì đúng đấy, mới có một nửa vấn đề. Còn một nửa nữa Trần Hưng ạ. Đó là chính sách kinh tế mới, giãn dân thành phố về các vùng quê, giải tỏa nhà ổ chuột.
Người phụ trách giải thích cho tôi một thôi một hồi về chính sách kinh tế mới, đoạn truyền:
– Tổ chức cử đồng chí đi thâm nhập thực tế đề tài này để viết một tác phẩm tầm cỡ. Hãy làm một cái gì như Đất vỡ hoang của Sôlôkhốp ấy.
Sau ba tháng vừa đi thực tế, vừa ngồi viết, tôi đã xuất xưởng một cuốn tiểu thuyết mang tựa đề Làng vui. Cuốn sách khi in ra đã tới gần bốn trăm trang. Tôi coi đây như lần thử sức cuối cùng với tiểu thuyết. Thắng cũng là đây, bại cũng là đây. Tôi chọn mấy chương đọc cho xếp nghe trước khi sách in ra. Hình như sợ tôi tra tấn thêm mấy chương nữa hay sao ấy mà ông vội gạt phát đi bằng một câu khen ghê người:
– Quá lớn. Khỏi phải đọc thêm, để mai kia đọc bản in cho sướng. Sách in ra, tôi đến nhà in mượn trước một cuốn về đọc thử. Tôi vừa đọc vừa hút thuốc mà sướng phát run lên. Tôi bị vinh quang làm mê man hơn cả say rượu. Đến nỗi, thấy mình trong chiếc gương dài trên tủ, tôi cứ tưởng ai, bèn cúi chào tới hai ba lần. Quái, sao cái ông bạn kia còn lễ phép hơn cả tôi. Tôi chào một, ông ta chào một cứ như là tên bắt chước hay kẻ nhạo báng. Tôi bực quá xấn tớ: xem gã là ai, đụng vào cái gương, suýt vỡ. Bấy giờ tôi mới biết mình nhầm. Rõ khỉ, mình còn không nhận ra bản mặt mình thì ai nhận ra mình được nữa? Trời ơi, hay là vinh quang đã làm tôi mắc bệnh vĩ cuồng? Từ đó, đến mấy tháng sau, tôi không thèm soi gương nữa. Cho hay, cốc rượu vinh quang nhiều khi lại là độc dược, có thể làm người ta tới chỗ khùng điên. Hèn chi, có những thiên tài khi lên tới chót đỉnh vinh quang lại đi tự tử, hoặc phát rồ. Tôi đã đọc đi đọc lại đến năm lần bảy lượt tiểu thuyết Làng vui ca ngợi sự thành công không tưởng tượng được của chính sách kinh tế mới, giãn dân về rừng rú hay nơi phèn chua nước mặn. Cho hay, văn mình, vợ người là câu tục ngữ vĩ đại nhất dành cho những kẻ cầm bút. Suốt một tháng, tôi ngồi phấp phỏng chờ đợi sự tiếp nhận ồn ã của báo chí và sự hoan nghênh cuồng nhiệt của độc giả. Nhưng rồi thời gian đi qua, Làng vui như bị ném vào vực thẳm. Chẳng có ma nào thèm bàn bạc hay nhắc đến tiểu thuyết của tôi. Trong khi đó, một ông lớn cho in một tập thơ dở ẹc, thua cả vè, chỉ là thứ diễn ca thô thiển và dung tục những chủ trương chính sách thì báo chí lại hùa nhau ca lên mây, biến nó thành tác phẩm lớn. Nhưng tôi vẫn không thể nào chắp nhận được cái lý quá khích của một ông bạn nhà văn, cho rằng giới phê bình nước ta bao năm rồi chỉ là đám theo voi ăn bã mía, theo đóm ăn tàn. ừ, cứ thử để Trần Hưng này trong một cương vị lãnh đạo nào đó coi, khối kẻ sẽ la làng lên rằng Làng vui là một đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cho hay là thể nhân, hay dở không phải do tác phẩm của anh, mà do anh ngồi ở vị trí nào trong nấc thang quyền lực. Nhưng nhờ trời, cái số của tôi chưa mạt, trước sau gì rồi cờ cũng đến tay thôi. Vấn đề là phải biết phất lên như thế nào để ngọn cờ mình phấp phới. Suốt năm mươi hai năm trời sống trên mặt đất này, tôi đã kiên nhẫn núp vào bình phong của sự trí trá để mai phục số phận. Có công rình rập, có ngày vớ to phải không đời? Tự nhiên tự lành trời ạ, còn hơn thằng lớ ngớ vớ được mỏ vàng.
Tôi vừa đến cơ quan thì thủ trưởng làm mặt nghiêm kéo ra một góc khiến tôi hết hồn, nổi gai ốc, ngờ là mình có chuyện gì với công an. Thủ trưởng nói rất thầm vào tai tôi như lời quốc cắm:
– Đồng chí được bí thư mời.
Tôi giật thót người, tái mét mặt. Bỏ cha, bí thư mời là thế nào, chắc lại có chuyện động trời gì đó. Xếp của tôi trấn an:
– Đừng lo. Tin vui ông ạ. Không phải bí thư tỉnh ủy cũ đâu. Ông ta bị bay rồi, mất chức vì thu về nhà cả chục ký vàng do bán bãi, bán quyền vượt biên. Đồng chí bí thư mới vừa được điều về mấy ngày, đã cho mời ông lên chơi. Thư của văn phòng tỉnh ủy đây
Tôi đang sợ cuống cuồng bỗng mừng méo mặt. Ân huệ gì đây cha mẹ ơi. Tôi đọc ngấu nghiến cái thư mời in bằng giấy trắng dày và cứng. Tôi sẽ được gặp mặt đồng chí bí thư tỉnh ủy tỉnh Sơn Giang chiều mai. Tôi về nhà với bàn chân kẻ mộng du đi mây về khỏi. Tôi vốn dĩ là kẻ hay xúc động. Từ lúc biết tôi được đồng chí Hoài Bão, bí thư tỉnh ủy mới mời đến nhà riêng chơi, mọi người trong cơ quan tôi đã nhìn tôi bằng con mắt hoàn toàn khác. Trong ánh mắt của đồng nghiệp, tôi nhìn thấy nêt kính nể và dè chừng, đượm chết khúm núm ân hận vì đã từng coi tôi như cỏ rác. Trong những ánh mắt đầy vẻ tự hạ mình trước tôi kia, tôi biết họ đang tự nói với mình: lơ mơ thằng Trần Hưng lên lãnh đạo một cái là gay, tốt nhất là nên chuẩn bị thái độ từ bây giờ, cứ xuống nước với hắn trước, tránh voi đâu xấu mặt nào.
Suốt đêm đó, tôi không sao ngủ được. Tôi hình dung ra cảnh gặp gỡ đồng chí bí thu tỉnh ủy với hàng trăm tình huống. Tôi tưởng tượng ra những ân sủng được ban phát. Tôi có thể được thăng quan, một thứ quan văn nghệ hạng bét nhưng có còn hơn không, nó vẫn cứ là quan. Tôi sẽ dạy cho bọn đồng nghiệp ngổ ngáo khinh người, coi trời bằng vung học được cách kính trọng Trần Hưng này. Tôi hồi hộp còn hơn cô dâu trinh bạch trước đêm động phòng hoa chúc.
Đúng hẹn, thư ký của bí thư tỉnh ủy ngồi trong một chiếc Vonga đen bóng hơn bôi mỡ đến cơ quan đón tôi. Nhà riêng bí thư tỉnh ủy là dinh đốc phủ sứ thời Tây, được cải tạo và xây dựng thành dinh tỉnh trưởng trào Mỹ. Xe chúng tôi vượt qua barie chặn lối vào khu phố đầy biệt thự lớn nhỏ của gia đình các đồng chí trong tỉnh ủy và ủy ban tỉnh. Đây là đường phố đẹp nhất thành phố: nhiều cây cổ thụ, vắng vẻ. Trên đường phố đặc biệt của khu thâm nghiêm kín cổng cao tường này, cứ mươi thước lại có bóng một anh công an cầm súng gác. Thảng hoặc, tôi lại thấy một khẩu hiệu kẽ đẹp, sơn trắng hoặc đỏ trên các bức tường đại loại như: Cán bộ là đày tớ của nhân dân hoặc Người cán bộ đảng viên khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ… Nhà riêng bí thư tỉnh ủy ở giữa khu đặc biệt này, tường quanh là đá hoa theo kiểu các lâu đài cổ. Đó là tòa biệt thự đẹp tới mức tôi chưa từng thấy. Chúng tôi qua một cổng sắt, một trạm gác nữa mới vào được khuôn viên của tòa nhà. Đó là công viên thu nhỏ với những loài cây quý tỏa bóng mát. Những ghế đá hoa cương rải rác trong vườn. Một hố nhân tạo thả sen Nhật Bản điểm xuyết vài con thiên nga vừa đen vừa trầng đang bơi êm ru như mộng. Một con gấu ngựa trong chiếc lồng sắt giữa vườn đang ngoạm một đõ ong mật. Tòa biệt thự ba tầng với những ban-công chìa ra bao chậu hồng rực. Ngôi nhà kiểu Pháp được tân trang lại, xây thêm một căn kiểu Mỹ nhỏ bên cạnh trông rất hài hòa. ở một góc là nhà của những gia đình đày tớ nói theo kiểu cũ, còn bây giờ người ta gọi là những cán bộ phục vụ, những nhân viên nhà nước làm nghề loong toong như thư ký, bảo vệ, tiếp tân… Dáng những tàn tùng bách tán nhọn hoắt đâm lên như muốn đỡ lấy vòm trời sắp tối. Điện xanh đỏ được bật lên trong vườn xem đến vui mắt. Thật là cảnh thiên đường Tây và Mỹ có nhã ý làm sẵn cho đồng chí nào được làm bí thư tỉnh ủy đến mà hưởng, bù đắp cho bao nhiêu năm nằm gai nếm mật, ăn bụi, ngủ rừng.
Tôi được đờng chí Quát, thư ký riêng của bí thư tỉnh ủy dẫn đi dạo quanh vườn trước khi gặp nhà lãnh đạo mà tôi chưa từng được biết mặt. Tôi mê mệt ngắm hết cây quý này đến chậu kiểng hiếm kia. Tôi ngắm con gấu chén mật ong mà chảy cả nước miếng. Kể ra, được làm con gấu cho bí thư tỉnh ủy cũng sướng.
Quát dẫn tôi vào phòng khách chờ. Anh bấm nút thang máy rồi chui vào cái hộp do chiếc ròng rọc cao quý kéo lên. Năm phút sau, Quát xuống tìm tôi:
– Đồng chí bí thư mời nhà văn lên phòng khách lầu ba.
Tôi đi theo Quát như một con lật đật. Tôi đứng trong hộp thang máy và cảm thắy hãnh diện vô cùng, như thể mình vừa hóa thành món hàng đắt giá được đóng hộp gởi đi xuất khẩu lấy ngoại tệ về cho nhân dân tỉnh nhà.
Thang máy vừa dừng, tôi theo Quát bước ra. Anh ra lệnh:
– Cởi dép.
Tôi cởi dép.
Quát lại bảo:
– Soi gương.
Tôi soi vào chiếc gương quá lớn bên tường. Lần đầu tiên trong đời, tôi được thấy mình trong gương từ gót chân lên tới đỉnh đầu. Tôi vừa tranh thủ thời gian vàng ngọc ngắm nghía dung nhan, vừa sửa lại cổ áo, vuốt lại tóc, liếm lại môi cho đỏ, y hệt như người cung nữ trước giờ tiếp quân vương.
Quát lại dặn:
– Đồng chí bí thư mời nhà văn dùng cơm chiều. Sau đó xem phim ở phòng bên cạnh.
Tôi gật đầu cám ơn. Quát lại dặn:.
– Đừng uống rượu nhiều, sợ nói năng vô ý.
Quát dẫn tôi vào một phòng khách sang hết ý, với bộ sa-lông bọc da chỉ nhìn cũng đã thắy muổn dính chặt mắt vào rồi. Tất cả đều là những đồ đạc cực kỳ đat tiền và hiếm có, đến nỗi có nhiều thứ tôi chưa từng trông thấy, chưa từng biết nó được gọi là gì.
Tôi chợt thấy một ông già ngoài sáu mươi nhưng tóc đã điểm bạc, bụng phệ, trán nhăn, thịt trên hai má tròn vo cứ muốn chảy xuống cằm. Ông mặc sơ mi trang muốt, thắt cravat, đi giày phăng-túp thứ dùng trong nhà. Tướng ông cao to, có phần đẹp lão, trông thật có uy, đúng với tư thế của người cầm quyền. Thấy tôi ông đứng lên cười:
– Ôi Trần Hưng!
Tôi cảm động đến nỗi chỉ một tí là ngã kềnh ra. Bí thư tỉnh ủy Hoài Bão tưởng là ai té ra là đồng chí Tràng Giang của tôi trời ạ. Từ năm 1958 đến nay, nghĩa là đã hai mươi hai năm, lần đầu tiên tôi mới được gặp lại người anh kết nghĩa, người lãnh tụ của đời tôi, người đã lấy tôi từ đơn vị về tờ báo sư đoàn Chiến Thắng ngày xưa, người đã từng chỉ thị cho tôi viết về cải cách ruộng đắt, viết về kháng chiến chống Pháp.
Tràng Giang liền ôm lấy tôi, đỡ người học trò mình ngồi vào ghế vì tôi sung sướng quá đã bủn rủn cả chân tay. Tôi vẫn chưa hoàn hồn vì hạnh phúc lớn này, miệng chỉ biết lí nhí:
– Anh là đồng chí bí thư tỉnh ủy Hoài Bão ạ?
Tràng Giang cười lớn:
– ồ chú em khờ quá. Tràng Giang hay Hoài Bão cũng chỉ là một người chiến sĩ cách mạng năm xưa thôi. Hoài Bão là bí danh của tôi khi vào Nam từ hơn hai mươi năm trước. Hôm nay, mời nhà văn đến chơi, chỗ anh em ngày xưa chia củ sắn lùi Việt Bắc
Tôi cám ơn lòng tốt của người thủ trưởng một thời của đời tôi Chính anh đã chỉ thị cho tôi sống, chỉ thị cho tôi viết văn và lấy vợ.
Một cán bộ phục vụ gái chừng hai mươi tuổi, xinh đẹp, mặc áo dài xanh, quần lụa trang, thướt tha đến bên bàn, bóc bao thuốc ba số năm, loại anh-tẹc mời tôi hút. Đoạn cô gái pha trà, thứ trà Tàu thực sự, theo bí thư tỉnh ủy nói là một người đàn em vừa đi Hồng Kông mua về biếu. Tràng Giang hỏi tôi về Ruộng và hai cháu Văn và Vương Thi hồi này ra sao. Ông bảo sẽ thư thả đề bạt vợ tôi lên chức phó giám đốc trường đảng của tỉnh.
Im lặng một chút, uống xong hớp trà, hút một hơi thuốc nhẹ, Tràng Giang bảo tôi bằng cái giọng khi làm việc:
– Tôi vẫn hằng theo dõi đồng chí từ khi đi B. năm 1959 đến giờ. Hầu như tất cả các tác phẩm đồng chí viết ra để phục vụ các giai đoạn cách mạng, tôi đều có đọc. Sáng tác của đồng chí cơ bản là tốt. Tôi cũng vừa tranh thủ xem cuốn Làng vui. Nghiêm túc mà nói, cuốn này chưa lớn nhưng khá, đáng biểu dương. Thông qua cuốn sách, đồng chí đã làm cho người ta yêu mến hơn những thành tựu vô cùng to lớn của cuộc cải tạo xã hội ở lãnh vực kinh tế mới. Hôm nay, tổ chức trao cho đồng chí một trọng trách khác, đồng chí có nhận không?
– Báo cáo đồng chí bí thư tỉnh ủy, tôi rất sẵn sàng.
– Tốt. Hôm qua, tôi có gợi ý cho ban tổ chức, cho ban tuyên huấn cử đồng chí về phụ trách tờ bảo văn nghệ tỉnh Sơn Giang chúng ta, thay đồng chí Đoàn Hứa đi chữa bệnh. Nói chung, không ai phản đối ý kiến của tôi.
Tôi sướng quá, run ban lên, đến nỗi phát ra một tiếng ho nhỏ. Số phận ơi, thật là có công há miệng, có ngày rụng sung. Tôi cám ơn Tràng Giang bằng những lời cảm động suýt khóc.
Trong xã hội mà chính trị là thống soái của chúng ta, thử hỏi có người cầm bút nào không mơ ước được lên làm lãnh đạo chứ?
Vẫn biết rằng quyền lực của các anh quan văn nghệ là thứ quyền lực cò con, nhưng có được thì quả là số zách. Nhà văn mà có quyền, viết tới đâu in liền tới đó, dù dở ẹc thiên hạ vẫn cứ xúm vào mà khen lấy khen để. Rồi thì các thứ bổng lộc sẽ ùn ùn kéo tới Nào giải thưởng, nào đi nước ngoài tì tì. Đi Tây, chỉ cần khôn ngoan bỏ vào vali cải da báo, ít đồng hồ điện tử, vài chục cái quần xlíp đàn bà, dăm cái quần gin… sang nước bạn có đàn em thảy ra chợ trời thu lại vốn, số lời khằm kia sẽ biến thành hàng hóa hai chiều, tha hồ khuân về nào tủ lạnh, nào nồi áp suất, bàn ủi, tivi màu, thuốc lá hay bét cũng một ôm dây mai-so… Lại còn tiêu chuẩn bạn cho từng ngày ăn không hết, phong bì bạn thí cho tiêu vặt, một cuộc phỏng vấn, một bài viết nhỏ, lại phong bì. Trời ơi, rồi còn tiệc tùng khách sạn khách sung, các cuộc gặp gỡ, tiếp tân quốc tế, có khi còn được đọc diễn văn, được ba hoa múa mép trước các nhà văn thế giới. Giờ đây, cơ hội đã tới, cờ đã tới tay, mày trúng số dài dài rồi Trần Hưng ơi.
Xong cái chuyện làm việc, Tràng Giang đưa tôi xuống lầu hai ăn tối. Tôi thắy một thiếu phụ trên dưới bốn mươi, son phấn trang điểm vừa phải, mặc rốp đỏ chói, đi tất mỏng màu kem sữa, dáng cao to, phốp pháp, mông và ngực loại ômêga tiền hô hậu ủng. Tràng Giang giới thiệu:
– Đây là nhà văn nổi tiếng Trần Hưng mà anh vẫn kể. Tràng Giang chỉ vào người đàn bà có đôi mắt rất sắc như lưỡi lam đang cứa vào tôi, như muốn giải phẫu cả cuộc đời tôi trong giây phút:
– Còn đây, xin giới thiệu với Trần Hưng, đây là Thùy Linh, vừa là đồng chí, vừa là tiểu đội trưởng của tôi, là mẹ của đứa con tôi.
Mọi người đều cười xã giao, cái cười rất nhạt. Tôi khẽ cúi chào bà chị của người anh kết nghĩa năm xưa. Thùy Linh nói giọng Bắc di cư, tiếng bà ta cứ véo von cao thấp như thể lúc nào cũng cần phải sắm một vai diễn gì đó trên sân khấu:
– A, xin hân hạnh chào anh Trần Hưng. Anh Tràng Giang quý anh lắm, nhắc hoài. Nay anh về làm bí thư tỉnh ta chắc là anh Hưng thích chứ? Thôi, xin mời các anh vào bàn cho, không nguội hết đo ăn bây giờ.
Bữa ăn dọn thật sang theo kiểu Tây. Người nữ phục vụ mặc áo dài bưng lên hết dĩa này đến đĩa khác. Cô khui chai săm-pa của Tây chính hiệu khai vị. Đoạn, cô mở tiếp một chai mạc-ten. Chúng tôi vừa ăn vừa cười nói ríu rít. Tràng Giang và Thùy Linh tế nhị giới thiệu mối tình của hai người. Năm 1975, Tràng Giang từ rừng về gặp Thùy Linh là cơ sở nội thành hoạt động hợp pháp. Họ yêu nhau ba tháng rồi làm đám cưới. Sáu tháng sau, một cậu quý tử ra đời. Theo một vài người nói nửa kín nửa hở, rằng thời nay trẻ sơ sinh trong bụng mẹ không thích nằm tới chín tháng mười ngày lâu lắc như xưa. Chúng đòi chui ra làm người khí sớm. Bằng chứng là hầu hết các cặp vợ chồng cưới nhau có khi mới được ba bốn tháng, hoặc khá hơn là sáu tháng như vợ chồng ông bí thư này, đã có thể sinh con. Mà quái lạ, mặc dù đứa trẻ ra đời sớm đến ba bốn tháng như vậy, vẫn đầy đủ tóc tai và lớn lên như thổi. Thùy Linh vừa ăn vừa liếc tôi như chớp. Mắt bà ta, môi bà ta toát ra một cái gì có vẻ như chưa biết thỏa mãn, như thể chưa có sức mạnh dương tính nào đủ sức giúp bà ta vượt qua cái hữu hạn của bản thân mình, để đạt tới cái đam mê, cái vô cùng của vô thức. Thùy Linh, theo con mắt trần tục của tôi, xin lỗi các bạn, bà ta là loại đàn bà sinh ra để làm cái việc trên giường hơn là làm cách mạng. Hiện nay, bà ta cùng với Quát là hai thư ký riêng của bí thư tỉnh ủy. Ông anh kết nghĩa của tôi tướng tá lệt bệt hom hem, vừa già vừa phệ thế kia, làm sao đáp ứng cho được một thân thể rực cháy, lênh láng nguồn sống của bà vợ nhỏ hơn ông cả hai chục tuổi này. Tôi trộm nghĩ, một người làm chính trị, nhất là một cán bộ cao cấp như Tràng Giang, lấy vợ quá trẻ và quá khỏe mạnh sung mãn như vậy, thật là một tai họa. Sau bữa ăn, chúng tôi chuyển sang phòng bên vừa dùng trà thuốc vừa xem phim. Tràng Giang bảo đó là phim Mỹ, loại phim dùng cho lãnh đạo nghiên cứu. Khi vào phim, tôi mới hay rằng, phim loại có nhiều màn tình dục gay cấn này mà nghiên cứu cái mẹ gì, các bố thưởng thức thì có. Khi tiễn tôi lên xe ra về, bí thư tỉnh ủy đưa cho tôi một tập bản thảo:
– Cây nhà lá vườn, thơ của tôi với bút danh Hoài Bão đấy. Chú về xem giùm góp ý cho tôi với nhé.
Tôi cầm tập bản thảo của lãnh đạo như cầm cả sự tiến thân của đời mình. Ba ngày sau, vận may đến gõ cửa phòng tôi. Tôi nhận được quyết định bổ nhiệm làm tổng biên tập tờ báo văn nghệ tỉnh Sơn Giang, kèm theo một chiếc xe du lịch hiệu Pơ-giô và một người lái xe trẻ tuổi. Chỉ trong vòng hơn hai tháng kể từ khi tôi về làm tổng biên tập tờ tuần báo văn nghệ tỉnh, tòa soạn đã nhận được hàng chục bài viết ca ngợi tiểu thuyết Làng vui của tôi. Tôi cho đăng in ít năm bài thôi, vì tôi là người khiêm tốn và tương đối còn biết điều. Đấy thấy chưa, có quyền một tí là văn mình bèn hay lên liền. Vinh quang đến với tôi ào ào đến độ phải chặn bớt lại, sợ thiên hạ ghen tuông.
CHƯƠNG 16 –
Vương Thi hỏi tôi:
– Bố ơi, thành phố An Hải này sao nhiều người sống ngoài vỉa hè vậy?
– Ôi do nếp sống Mỹ hóa gây ra cả con ạ. Họ quen hưởng thụ rồi, bây giờ không quen lao động nên đành bán cả nhà cửa đi để đổ vào lỗ miệng.
– Nhưng con nghe mọi người bảo đó là đám dân kinh tế mới về đấy bố?
Tôi trả lời cho qua chuyện:
– ừ cũng có thể.
– Vậy sao trong tiểu thuyết Làng vui của bố, chính sách giãn dân thành phố, chính sách kinh tế mới thành công rực rỡ cơ mà. Cuộc sống ở vùng kinh tế mới tổt đẹp như bố tả trong sách, sao người ta cứ bỏ về thành phố kìn kìn, nằm vỉa hè đi bới rác sống là sao?
– Ôi thế mới là những quân dại con ạ. Họ thèm một tí điện thôi… Thiếu không khí xô bồ bát nháo phố thị, họ không sống được, thà làm ăn mày ở vỉa hè còn hơn là anh phú nông dưới quê. Làng mới sướng bắt chết đi mà họ không chịu ở. Bố cũng chịu, chả còn hiểu tâm lý cái đám thị dân này nữa.
– Con chả tin. Không ai bỏ chỗ sướng đi vào chỗ khổ cả. Bạn con nói đùa: họ, những người dân kinh tế mới từ Làng vui của bố mày về đó. Con đau nhói trong lòng.
Nó chưởi bố mình thâm hiểm như vậy mà vì đuối lý, mình đành ngậm bồ hòn làm ngọt.
– Thôi, nó nói gì kệ nó con ạ. Làng vui của bố viết ra từ 1978, lúc đó kinh tế mới sướng lắm. Còn bây giờ là năm 1982, phong trào kinh tế mới đổ bể rồi thì liên quan gì đến cuốn tiểu thuyết của bố nào? Bố viết văn chỉ để phục vụ một giai đoạn cách mạng, giai đoạn sau lại có cuốn khác, lo gì.
– Thế bây giờ bố có dám viết một cuốn truyện về dân kinh tế mới ngủ vỉa hè đầy ra không?
– Bố chịu. Vả lại, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ có quyền viết về cái tốt đẹp. Ngoài ra bố còn làm tổng biên tập báo văn nghệ, bận lắm, chẳng còn thời gian viết dài hơi đâu.
– Con chả hiểu ra sao bố ạ. Bố cho phép con nói thật nhá. Thời nay những cái giả tạo thì được khen, được trọng dụng. Ví như cuốn sách Làng vui của bố vậy, con thấy chả thật một tị, toàn bịa khiếp lên được ấy.
– ấy, văn học là hư cấu mà con. Hư cấu là hư cấu cái hình tượng, nhưng phải trên cơ sở cuộc sống, phải trung thành với hiện thực.
– Bố làm như con không hiểu gì về lý luận văn học ấy. Chả gì con cũng là giáo viên dạy văn cấp hai nhá. Có đứa bạn độc mồm dạy chung với con rêu rao rằng bố cái Vương Thi chỉ là bồi bút.
Tôi giận tái mét mặt lại, tức sôi máu quát:
– Đứa nào, con nào dám bảo một nhà văn cách mạng như tao là bồi bút hả? Quân phản động, xích cổ nó lại chứ ăn nói vô tổ chức thành quen đi.
– Này, bố đừng nóng nhá, tên đứa đó là mọi người đấy. Ai đọc sách của các bố mà không phì cười vì sự tô hồng quá đáng. Văn chương của các cụ với lý luận là viết về cái hiện thực sắp có, sẽ có hơn là viết về cái hiện thực đang có. Mà cái xã hội thiên đường tốt đẹp sẽ đến kia thì cóc có ai biết, cũng chẳng có cơ sở nào để nó đến một cách cụ thể. Thành ra văn chương của các cụ đa phần thường ngược lại cuộc sống hôm nay.
Tôi nạt con gái:
– Thôi im mồm đi. Mày lại hùa theo chúng nó nói bậy rồi. Giữ mồm giữ miệng không vạ vào thân đấy con ạ. Chuyên chính vô sản đừng có mà đùa.
– Con cóc sợ. Bố có nhớ hồi xưa ngoài Bắc ở tỉnh X. khi con theo bố về chơi không, lại có cả bài ca hố xí hai ngăn phát trên làn sóng trên đài phát thanh tỉnh đấy. Quan niệm văn nghệ phục vụ dung tục như vậy là một cách để xóa bỏ văn nghệ bố ạ. Đến khi cấp trên phát động phong trào hạn chế sinh đẻ, thì trên tờ báo tỉnh, lại có bài thơ của một nhà thơ chuyên làm thơ thời sự là bài Người đặt vòng hạnh phúc. Rồi lại thấy xuất hiện trên loa công cộng bài hát Bài ca thuốc ngừa thai. Bố còn nhớ chứ. Con chịu thôi, văn nghệ văn gừng cứ vậy, chẳng qua chỉ là trò hề.
Tôi thu quân:
– Thôi chuyện của bố, không việc gì đến con.
– Vì những việc của bố, ảnh hưởng đến danh dự của con.
Đấy, các bạn có thấy bây giờ lớp trẻ nó chả còn coi ai ra gì nữa không, chúng phủ nhận tất tần tật. Chúng chẳng hiểu gì cả. Vì cuộc sống là cuộc sống, còn văn học lại là văn học, hai cái là hai phạm trù khác nhau như đàn bà không thể là đàn ông và ngược lại. Chúng cóc có hiểu được phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa là gì, là vẽ ra xu hướng của hiện thực chứ không phải dựng dậy hiện thực, giúp con người nhìn thấy tương lai trước khi nó được biến thành hiện thực. Đấy là đôi cánh của quy luật được gọi là phương pháp hiện thực lãng mạn cách mạng. Gần đây, con Vương Thi đã xin trường được một phòng nhỏ ở riêng. Còn anh ruột nó là thằng Trần Văn Văn hiện đã tốt nghiệp đại học, đã tót sang nhà bố vợ tương lai là ông giám đốc một sở lớn để ở cho sướng. Thỉnh thoảng hai đứa con mới ghé về thăm bố mẹ. Thằng Văn ít nói chuyện với tôi, chỉ hay rù rì với mẹ. Nó cho tôi đã suốt đời làm khổ mẹ nó. Bốn thành viên trong gia đình tôi đều ông chẳng bà chuộc. Con cái không còn tin tưởng và kính trọng bố mẹ nữa. Bố mẹ với con cái cũng chỉ là mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, kẻ thống trị và người bị trị. Thành thử gia đình không ra gia đình, cơ quan chẳng phải cơ quan. Từ khi được làm phó giám đốc trường đảng tỉnh Sơn Giang, Ruộng lấy quyền lực làm lẽ sống, làm tình yêu. Cô đang hết sức tích cực để khóa tới trở thành tỉnh ủy viên và biết đâu lại còn có khả năng vào thường vụ tỉnh ủy. Người ta đang cần những nhân vật nữ vào các chức vụ quan trọng mà. Ruộng sống như một ni sư đã diệt dục, tập trung hết những năng lượng thừa vào nỗi đam mê quyền hành. Vì đường công danh của mình và hai đứa con đã lớn, Ruộng phải cắn răng, mím môi, thót bụng lại để cố tạo ra hình ảnh của một gia đình nề nếp, có tổ chức quy củ, có văn hóa và hơn nữa là có hạnh phúc. Một hạnh phúc giả tạo trong một gia đình giả tạo. Ruộng hoàn toàn yên tâm về cái khoản gái trai của ông chồng nhà văn bất lực, coi như đã chấm dứt từ lâu. Cô không còn cần phải cảnh giác cách mạng làm gì nữa trên cái mặt trận tình tang nem chả này. Có nhiều lúc Ruộng bảo tôi: anh bị vậy mà hóa hay, mà mẹ con em được nhờ. Nhưng lý trí vẫn thuần là lý trí. Tôi biết rằng nhiều đêm Ruộng đã trăn trở đến quằn quại rồi ngồi dậy khóc thầm. Tội nghiệp Ruộng, cô đang ở giai đoạn cuối cùng của tuổi hồi xuân. Người đàn bà trong Ruộng đêm đêm thức dậy đòi hỏi quyền lợi, đòi được xác lập, được khẳng định, được đốt cháy và thăng hoa cái nhiệt lượng dư thừa của thân xác. Cứ tưởng người cán bộ, người lãnh đạo trong cô đã chiến thắng, đã làm chủ được thân xác mình. Cứ tưởng rằng khi có quyền lực, cô được sung sướng và mãn nguyện. Té ra, đêm đêm về nằm trong một mái nhà với một ông chồng hình nhân, một ông chồng hờ, cô lại thấy thảm thương cho cái số mình sao gặp nhiều oan trái buồn tủi đến thế. Mặc dù cô biết người chồng mình hồn vía chưa từng thuộc quyền sở hữu của cô. Cô cũng biết người tình địch của mình đã chết. Nhưng bằng tiên cảm của người đàn bà, Ruộng biết lòng dạ tôi vẫn cứ rối bời vì cái hình hài đã thành cát bụi. Tôi biết, đôi khi Ruộng thấy con người chính trị trong mình chẳng qua chỉ là một con người giả, chỉ là một âm bản của đời sống mình thôi. Còn con người thật của cô lại nằm ở những khao khát, những đòi hỏi bình thường, được yêu, được hạnh phúc. Khi tự mình phải đối diện với mình, tôi biết cô thấy mình cô đơn một cách kinh hãi. Tất cả không có gì bù đắp được sự hụt hẫng của một người đàn bà không được yêu. Tôi thương vâ an ủi cố nhiều nhưng làm sao giải tỏa được cho bản thân cô. Tôi không còn đốm lửa dù nhỏ nào để sưởi ấm chưa nói đến sự đất cháy giùm cô. Tôi người chồng của cô, người làm cô bất hạnh, chung quy cũng chỉ là một kẻ bất hạnh. Tôi phải vác bao nhiêu niềm vui giả tạo, hạnh phúc giả tạo như vác thập giá đến nơi hành hình. Trong toán học, hai cái dấu âm cộng lại thành dương. Nhưng trong đời sống, hai kẻ bất hạnh cộng lại chẳng thể biến thành hạnh phúc được.
Giờ đây, tôi chỉ là một tảng băng biết làm tổng biên tập tờ báo văn nghệ tỉnh. Sau cuộc họp giao ban hàng tuần, ông Hai Kỷ, phó ban tuyên huấn mời tôi lại:
– Tôi có cà phê thứ thiệt, cà phê chồn Buôn Mê Thuột ông nội ơi. Vừa uống, ta vừa bàn một số công việc được chứ?
– Tất nhiên. Tôi trả lời.
Chúng tôi lên lầu, vào phòng làm việc của Hai Kỷ. Hai Kỷ pha cà phê, đem ra cả đĩa bánh ngọt, một bao thuốc ngon. Chúng tôi vừa uống vừa bàn công việc. Ông rút từ trong cặp ra một tờ báo, đưa cho tôi. Thì ra là tờ Văn học ngày nay. Hai Kỷ bảo tôi:
– Ông thử đọc bài thơ bốn câu ở trang mười coi. Thật là một phát súng bắn vào những nguyên tắc bất di bất dịch của chúng ta.
Tôi mở trang mười. Trời ơi, số tôi sao suốt đời chạy trời không khỏi nắng, đi đâu cũng gặp cái núi lửa này. Thơ của Trần Khuất Nguyên trời ạ.
Bài thơ thứ nhất có tựa đề là Thương con vạc:
Đừng trách con vạc
Sao mày ăn đêm
Chao ôi đồng đất
Ban ngày như nêm.
Bài thơ thứ hai của Trần Khuất Nguyên có tựa đề là Lời cái thớt:
Số phận cho ta làm mặt thớt
Kể gì thịt cá nát đời nhau
Sinh ra là để người ta chặt
Ta chỉ ăn toàn những vết dao.
Tôi đọc đi đọc lại đến thuộc lòng, thầm bảo bụng: bố khỉ, thơ hay thật. Trong thâm tâm không phải tôi không phục tay Trần Khuất Nguyên, cái kẻ mới mười lăm tuổi năm 1964, tại công viên thị xã X., đã từng phủ nhận cuốn Lúa reo của tôi viết về hợp tác xã. Cái tay mà trước giải phóng, đầu năm 1975, tôi còn gặp ở chiến khu lúc anh ta là chính trị viên đại đội trinh sát.
Một số anh em nhà văn chúng tôi, luôn luôn đoán ý lãnh đạo để viết, không có cái nghênh ngang của lớp nhà văn như tay trinh sát này. Nói chung, những người cầm bút thế hệ chúng tôi và thế hệ trước đó, luôn luôn sợ hãi, mặc cảm trước kẻ cầm quyền. Rằng chỉ có những người lânh đạo chính trị mới là cộng sản thứ thiệt. Còn chúng tôi, tuy mang danh đảng viên đấy, nhưng chỉ là những con sứa, những thân phù du biết mang thẻ đảng, không dám đấu tranh, dám sống chết vì sự thật. Tôi là kẻ dù ít nhiều cũng có biết võ vẽ học thuyết của Hê-ghen. Tôi hiểu rằng, một ngòi bút, hơn nữa một nền văn học sinh ra chỉ cốt để khẳng định, để khen ngợi, tô hồng hiện thực dù hiện thực kia có hoàn thiện hoàn mỹ trăm phần trăm đi nữa, thì sự khằng định, sự khen ngợi, sự tô hồng ấy không còn là khẳng định, khen ngợi và tô hồng nữa. Bởi vì, sự khẳng định chỉ có thể là khẳng định, chỉ có thể được tin tưởng, được xác nhận khi nào ngòi bút kia, nền văn học kia học được cách phủ định. Chúng ta, buồn thay, luôn luôn đọc ra rả như ve sầu ngày hạ rằng: sự vật bao giờ cũng được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất. Nhưng nhãn quan chính trị, nhãn quan kinh tế, nhãn quan văn hóa văn nghệ của chúng ta hỡi ôi, bao nhiêu năm, chỉ nhìn sự vật có một chiều thuận với ý chủ quan của mình, còn chiều nghịch kia của sự vật, chúng ta cố tình làm lơ, coi như nó không có, không còn. Chúng ta hô hoán lên rằng: chủ nghĩa xã hội không còn mâu thuẫn, không còn bi kịch, không có cái ác, chỉ rặt toàn thiện mỹ mà thôi. Sự vật, chính là thế giới khách quan tồn tại ngoài ý muốn con người, vẫn cứ tiếp tục phát triển trong quá trình vận động giữa các mặt đối lập thống nhất của nó, mặc xác các thứ lý thuyết một chiều ấu trĩ đầy duy tâm chủ quan của chúng ta. Trong sự hình thành nhân cách của con người, từng giây phút là các cuộc ác đấu âm thầm giữa thiện và ác, đúng và sai, tốt và xấu, hèn nhát và quả cảm để tự khẳng định tồn tại. Mỗi con người còn thế, huống hồ là cả một đất nước, một dân tộc, sao lại bảo không còn cái ác, cái xấu, không còn đối kháng nữa? Quan niệm về thế giới như vậy, nhìn nhận về sự vật như vậy mà dám vỗ ngực tự xưng là mác xít được ư? Chưa hết, người ta còn tuyên bố đã nam được chân lý tuyệt đối khách quan. Đến ngay Mác và Lênin, những thiên tài sáng tạo ra học thuyết cộng sản cũng chưa từng dám tuyên bố huênh hoang đến thế. Chân lý, khi đã nắm bắt được rồi thì nó không còn là nó nữa. Chân lý hay là khát vọng hướng thiện không cùng của con người, vươn lên nắm bắt cái vô cùng của thế giới. Không một con người nào, một tập thể người nào độc quyền về chân lý cả. Chân lý cũng như khí trời, như ốc-xy, là tài sản của mọi người trên hành tinh bé nhỏ và quá lắm chuyện của chúng ta. Con người muốn thống nhất với chính bản thân mình và thống nhất với nhau, cần phải được mâu thuẫn, được đối lập, được tranh luận, cần biết nghe bằng nhiều lỗ tai và cái quan trọng là phải trừ khử ngay cái thói kiêu ngạo coi mình là ông trời. Có như vậy, chân lý mới có cơ tồn tại và mỉm cười với chúng ta. Vừa đọc đi đọc lại hai bài thơ bốn câu của Trần Khuất Nguyên, tôi vừa ngẫm nghĩ những điều trên. Chúng ta kể cả tôi, xưa nay chỉ quen nhìn nhận và phân tích sự vật có một chiều thuận với ý muốn chúng ta. Đến khi cần phải lật ngược vần đề lên một chết là đã sợ phạm húy, phạm vào những giáo điều cứng nhắc mà người đại diện của nó là ông Hai Kỷ đang người pha trà trước mặt tôi. Nhưng tôi lại chưa có gan nói thẳng những ý nghĩ mình với người khác bởi vì tôi hèn, tôi sợ bị quy là phản động. Hỡi ôi, tôi được sinh ra đâu phải để làm cái loa của kẻ khác, bản nháp của kẻ khác. Tại sao tôi không thể có nhận xét riêng, ý kiến riêng của mình về các vấn đề? Tôi đang ở trong trận đồ bát quái của chủ nghĩa giáo điều, liệu có còn cơ hội thoát ra được nữa không? ôi chao, chả lẽ tôi cứ phải nói, phải viết ngược lại với lòng mình cho phù hợp với đôi tai và đôi mắt của cấp trên. Ông Hai Kỷ, người ba mươi năm làm công tác tuyên huấn hỏi tôi:
– Sao nhà văn, ông thấy hai bài thơ này thế nào?
Tôi trả lời chung chung cho đỡ thẹn với lòng mình:
– Tôi thấy nó không ổn.
– Ông hữu khuynh rồi đó Ba Hưng. Sao lại không ổn. Thương con vạc và Lời cái thớt là khẩu khí của đứa ngông cuồng, không cần biết dọc ngang nào biết trên đầu có ai nữa. Khi kẻ bị lãnh đạo quên mất chỗ đứng của nó thì nó bắt đầu quậy. Thằng cha Trần Khuất Nguyên, một thằng con nít mà gan cùng mình, dám thách thức với những nguyên tắc bất di bất dịch của chúng ta.
Tôi bênh:
– Tôi nghĩ hắn không dám thách thức chúng ta đâu. Chúng ta quên rằng trong phạm trù của hai từ chúng ta, bao hàm cả tay Trần Khuất Nguyên này nữa. Theo như tôi biết thì cậu ta cũng là đảng viên, từng đi chống Mỹ, từng bị thương khá nặng, sao lại nỡ đẩy nó vào hàng đối lập với chúng ta?
– Ôi, anh ngây thơ quá đấy Ba Hưng. Tôi nghĩ một người duyệt bài vở mà thiếu chỗ đứng, thiếu lập trường giai cấp như anh thì rồi số phận tờ báo văn nghệ tỉnh sẽ ra sao đây? Như thế này mà anh còn tính bênh vực nó nữa hay sao? Anh có biết tờ tuần báo Văn học ngày nay giờ ra sao chưa? Số báo in hai bài thơ này đã bị thu hồi. Tay tổng biên tập bị kiểm điểm toé khói, có thể mất chức. Cơ quan quản lý văn hóa văn nghệ vừa gởi công văn đi khắp nơi, kể cả tỉnh ta đòi khai trừ Trần Khuất Nguyên ra khỏi đảng, khai trừ ra khỏi hội viên hội nhà văn Việt Nam. Thường vụ tỉnh ủy vừa họp bốn cuộc họp về hai bài thơ của thằng trời gầm đất lở này. Thường vụ đã chỉ thị cho sở văn hóa thông tin, nơi Trần Khuất Nguyên công tác phải kiểm thảo nghiêm túc hắn. Sáng hôm nay thằng Nguyên đang bị quần nhừ tử đấy ông Ba Hưng ơi. Tôi lạnh toát xương sống. Đừng có đùa với kỷ cương thép của tổ chức. Hai Kỷ dùng chuyện Trần Khuất Nguyên để đánh tôi trúng huyệt: ấy là nỗi sợ hãi bị kỷ luật, bị khai trừ, bị thanh trừng, bị tù đày của cả đời tôi từ vụ viết cuốn Vượt bão phụ họa cho cải cách ruộng đất ngày xưa. Bởi vì nỗi sợ tận cùng gan ruột của tôi vẫn là cuốn nhật ký viết hồi sau cải cách ruộng đất, hiện nay vợ tôi đang giữ để làm áp lực cột tôi lại với cô ấy. Tôi không còn con đường nào khác ngoài việc từ bỏ ý định bảo vệ Trần Khuất Nguyên. Nghĩa là tôi phải phụ họa, phải đứng về phía Hai Kỷ để giữ vững cái ghế tổng biên tập tờ báo văn nghệ tỉnh của mình. Tôi bảo Hai Kỷ:
– Nếu quả con ngựa non háu đá này có ý xỏ xiên chúng ta thì nên dạy cho hắn biết thế nào là lễ độ, cho nó chừa cái thói ngông nghênh đi.
Hai Kỷ thông báo: Tôi nói nhỏ cho anh biết, bên bảo vệ văn hóa đã có đầy đủ hồ sơ về Trần Khuất Nguyên. Họ định bắt nó đấy nhưng còn hơi do dự. Dù sao, tên Nguyên này cũng từng đi chống Mỹ, là thương binh, đảng viên, là nhà thơ trẻ có tiếng hiện nay. Muốn bắt hắn còn phải để ý đến dư luận, tới sự thu phục nhân tâm của đám văn nghệ sĩ chế độ cũ nữa ông ạ.
Tôi hùa theo: – ừ phải rồi. Chúng ta không nên lấy quyền hành để đẩy một số anh em văn nghệ nào có thiếu sót, có viết chút gì đó lệch lạc sang thành đối lập với đảng. Cách mạng cũng cần phải biết nghe bằng nhiều lỗ tai.
– Thôi đi ông Ba Hưng. Các bố văn nghệ hay bênh nhau lắm. Bắt Nguyên thì chưa tới lúc nhưng phải làm ra lẽ cho hắn sợ. Khi chúng ta đang cải tạo xã hội chủ nghĩa thì hắn lại tung ra bài thơ ỡm ờ Thương con vạc. Anh thừa biết con vạc là biểu tượng cho cái gì rồi chứ. Vạc chính là những âm mưu đen tối, những bọn đi đêm làm các nghề bất chính như trộm cắp, gái điếm, bọn gián điệp phá hoại rình mò trong bóng tối. Vậy mà thằng Nguyên này dám tuyên bố thương con vạc, rồi dạy chúng ta đứng nên trách con vạc nữa. Chúng ta không chỉ trách, không chỉ căm giận lũ mặt người da vạc mà sẽ còn bắt sạch những loài ăn đêm. Còn bài Lời cái thớt của hắn nặng hơn nữa ông ạ. Xã hội ta là một xã hội trên dưới một lòng, lãnh đạo hòa với nhân dân như cá hòa với nước. Vậy mà hắn dám đặt một cái thớt trong mối quan hệ thiêng liêng giữa dân và đảng. Vậy thớt là gì? Về mặt tu từ, tôi đã tra ba bốn cuốn từ điển. Thớt là cái dụng cụ bằng gỗ để làm đòn kê cho công cuộc chặt thịt, chặt cá. Đơn giản như vậy thì cần gì thằng nào phải làm thơ. Hần bảo ai là mặt thớt hả ông Ba Hưng? Ai, hắn bảo ai chỉ ăn toàn những vết dao nào? Đủ rồi, chúng ta cần sự ngọt ngào, cần sự khẳng định, ngợi ca cơ. Chúng ta không cho phép bất cứ ai nhân danh bất cứ thứ gì để châm chọc, chỉ trích hoặc vặt lá tìm sâu xã hội tốt đẹp của chúng ta.
Nghe Hai Kỷ phân tích thơ, tôi buồn quá. Người ta đã học được cách suy diễn hết sức chủ quan trước hình tượng văn học, chụp cho bài thơ những cái mũ kinh khủng mà nó không hề có. Người ta cố ý tước bỏ tính biểu tượng của văn học theo kiểu vặt trụi hết lá cây, không muốn văn học được nói nhiều nghĩa, được mang yếu tố thâm thúy của tư tưởng, được phép khái quát hóa và điển hình hóa. Nếu tất cả các thời đại, các xứ sở đều phân tích thơ kiểu ông Hai Kỷ này, chắc chắn văn học đã biến mất khỏi mặt đất. Thế giới sẽ không còn những thiên tài ván học nữa nếu như tư tưởng và tâm hon con người cũng bị kiểm duyệt, bị lục soát theo kiểu các trạm thuế của ta khám xét hành trang khách đi đường. Chúng ta sẽ còn là những kẻ mắc bệnh sợ ma, nếu vẫn quan trọng hóa quá đáng tác dụng của một bài thơ, một cuốn tiểu thuyết nào đó có vấn đề khi nó tung ra ngoài xã hội. Văn học mà không có vấn đề, không dám đặt trước các vấn đề cho con người và xã hội thì còn coi là văn học được ư? Chẳng ai chú ý đến hai bài thơ bé nhỏ như hai con kiến của Trần Khuất Nguyên, nếu như tờ báo không bị thu hồi, nếu như không có những bài đánh, những chỉ thị trị tác giả của nó. Và lập tửc, hai con kiến kia sẽ biến thành hai con voi dư luận. Nhưng đau buồn thay, tôi lại không nói được những suy nghĩ của mình về hai bài thơ này, tôi phải cần biết cách phụ họa cho Hai Kỷ:
– Nghe anh phân tích tôi mới thấy dễ sợ thật.
– Vậy thì tôi yêu cầu anh lên tiếng trên báo văn nghệ tỉnh về hai bài thơ phản động này.
Tôi hiểu yêu cầu này của ông ta chính là lệnh.
Tôi ôm cái lệnh ấy cùng tờ Văn học ngày nay về tòa soạn. Kiếm một người để đánh đồng nghiệp trên báo theo lệnh tổ chức thời nay thật không khó khăn gì. Tôi đưa hai bài thơ này và ý đồ của Hai Kỷ cho một nhà phê bình nhờ ông viết đánh. Nhà phê bình này đã có lúc từng khen thơ Nguyên hay trên báo. Ông nhận lời viết bài trong thời hạn rất ngắn. Sau hai tuần, bài đánh Trần Khuất Nguyên được in ra kèm theo việc in lại hai bài thơ bốn câu. Số báo được bán chạy, bán hết trong hai ngày. Từ trước tới nay, tờ báo của tôi ế quá, người ta mua về để gói đồ hơn là đọc. Tòa báo lỗ quá, đành phải bán tiêu chuần giấy trắng đi để kiếm lời mà sống. Nhờ hai bài thơ bị nhà phê bình K. đánh, tờ báo bán chạy không ngờ. Tôi đề nghị nhân cơ hội này làm kế hoạch B, cho in thêm năm nghìn số báo nữa để phát hành rộng rãi ra cả các tỉnh bạn. Lại bán chạy như tôm tươi. Chúng tôi lời một số tiền lớn. Anh em cán bộ biên tập và phóng viên trị sự báo hí hửng như Ngô được vàng. Tôi họp tòa soạn ăn mừng thắng lợi, tiếp tục mời các cây viết phê bình trong ngoài tỉnh tham gia đánh tiếp hai bài thơ của Trần Khuất Nguyên. Đích thân tôi mời bốn nhà phê bình khác. Họ nhận lời viết trong một ngày đêm. Số báo tiếp được in ra tới sáu nghìn bản. Nhưng than ôi, khi báo phát hành chẳng có ma nào mua cả. Người ta chỉ tò mò muốn biết hai bài thơ bị đánh, còn ai đánh, đánh sao thì người ta chẳng cần. Tòa soạn chúng tôi bị một cú thua lỗ trời kêu. Tôi nhận được thông báo của đảng ủy sở thông tin văn hóa: Trần Khuất Nguyên đã bị khai trừ đảng, bị cách chức phó phòng văn nghệ xuống thành nhân viên thường. Trần Khuất Nguyên, nhà thơ thương binh chuyển ngành, từng có ba bốn tập thơ được xuất bản, từng đạt được nhiều giải thưởng về thơ đã bị cấm in thơ trên phạm vi toàn tỉnh Sơn Giang và toàn quốc. Ngay đến các tuyển tập, Nguyên cũng bị gạt tên. Tay phó tổng biên tập của tôi vốn là nhà thơ và tay tổ trưởng tổ thơ của báo mừng lắm. Hạ được một địch thủ như Trần Khuất Nguyên, may ra họ mới có dịp nổi tiếng. Mỗi ngày, họ ngồi lại với nhau quanh quán cà phê của báo văn nghệ tỉnh, hí hửng thông báo cho nhau về nỗi bất hạnh mà nhà thơ liều mạng kia đang phải chịu. Những đàn em của hai anh làm thơ này thì thụp thông báo cho họ những hoạt động của Nguyên. Một buổi tối, đám thơ trẻ tập hợp quanh Hoàng Thi và Vũ Điệu, người tổ trưởng thơ của báo tại tòa soạn. Họ mời tôi tham gia một buổi đọc thơ có nhậu. Tôi hiểu đây là bữa tiệc mừng của họ khi đối thủ thơ số một bị hạ. Một thi hữu có tên là Dạ Lạc, cao to, trang trẻo, để ria con kiến, mắt ti hí, nói giọng eo ẻo như tuồng lại cái, lè nhè:
– Báo cáo các anh, đây là một tin em mới nhận được. Các anh hẳn biết cô ca sĩ Lâm Tuyền chứ?
– Biết, diễn viên múa chuyển qua hát, vợ thằng Nguyên chứ gì.
Hoàng Thi lên tiếng. Tay Dạ Lạc tiếp:
– Hết là vợ rồi. Lâm Tuyền vừa bế đứa con trai đến ở với thằng Tư Mộng bán chợ trời. Thà làm vợ bé cho kẻ mánh mung còn hơn làm vợ một thằng nhà thơ điên.
Hoàng Thi chêm vào:
– Chuyện này tao biết lâu rồi. Con Lâm Tuyền tướng tá bốc lửa như vậy, thằng Nguyên ốm nhách, sức mấy đáp ứng nổi. Con kia thì ưa ăn diện, nay nhà hàng, mai du hí bám vào thằng Trần Khuất… Khuất gì tụi bây… Khuất Điên ạ… Đúng, bám vào thằng Khuất Điên mà chết đói à? Sẽ còn phải đi thăm nuôi dài dài nữa chứ? Thằng cha này, tao dám cá với tụi bây không trước thì sau cũng tù.
Một gã làm thơ bé choắt, lấc ca lấc cấc, tên là Hữu Thân kể:
– Đám đàn em phục tài tay Khuất Nguyên giờ bỏ rơi hắn hết trơn. Hắn cô đơn lắm. Vợ nó bỏ đi, đếch thèm ly với chả dị. Em giả bộ đến chơi để an ủi hắn. Hắn tưởng thật, cảm động lắm, mời em ở lại ăn cơm. Cơm của hắn thì trời cũng ngán, chỉ có nửa bó rau muống luộc chấm tương ớt, nuốt không vô. Em yêu cầu hắn đọc thơ, hắn lắc đầu, Khuất Nguyên mà không đọc thơ thì còn gọi là Khuất Nguyên được chăng? Em khích hắn rằng anh là thiên tài nhưng hắn vẫn câm như hến. Thằng cha sợ hết mẹ nó hồn vía rồi. Sáng qua chủ nhật, em tà tà thả xe đạp ra bờ hồ ngoại vi thành phố hóng mát, chợt thấy Trần Khuất Nguyên đội cái mũ rách, mặc bộ đồ bộ đội xơ mướp người như tượng gỗ trên một hòn đá. Lưng hắn dựa vào gốc cây, mắt hắn mở trừng trừng không chớp. Em bèn rón rén núp vào một gốc si cổ thụ bên cạnh, ngầm theo dõi nhà thơ coi hắn giở trò gì. Trời ơi, các anh biết hông, hắn lầm rầm đọc thơ như kẻ cầu kinh vậy. Em hết sức dỏng tai ra nghe coi hắn có đọc thơ phản động không để ghi chép về còn báo cáo mấy chú mấy anh. Nhưng hắn đọc toàn những bài thơ thương nhớ đồng đội đã hy sinh trong rừng. Em nghe câu được câu không. Một mình đọc thơ cho mình nghe mà tới có cả tiếng đồng hồ. Hình như hắn đang cầu cứu vong hồn đong đội xưa. Hắn đọc xong một tua thơ bèn gọi bao nhiêu tên người. Rằng Hùng, Tuyến, Chính, Hoan, Danh, Lùng, Mậu… ơi. Hắn gọi tới mấy chục tên em không nhớ hết. Hắn cứ độc thoại rì rầm như nói chuyện với ma vậy. Hắn còn quơ tay lên làm các động tác hệt như đang tranh luận với ai một điều gì. Em ớn cả da gà. Hay là thằng cha này nhìn thấy ma, đối đáp với ma? Rồi hắn cúi đầu xuống như mặc niệm. Hắn cảm động điều gì không biết mà gần như là ứa nước mắt ra vậy. Rồi bất thần hắn hát lên khe khẽ các chú các anh ơi. Hắn hát bằng cái giọng ồ ề nhừa nhựa như linh hồn cơm nguội cất thành âm thanh ấy. Hắn hát tùy hứng theo những giai điệu cực kỳ linh tinh tự đặt, lúc nghiêm trang, lúc hết sức dông dà cà chớn. Sau đó, em thấy hắn gục xuống rồi im lặng. Thì ra hắn ngủ ngồi các anh ơi. Em rón rén đến sau lưng hắn quan sát. Trên đầu tóc hắn, lòi ra ở cái phần nón bê rê rách là một vệt sẹp trang ởn, nghe đâu hồi đánh vào Sàigòn, hắn bị thương nặng ở ngã ba Xuân Lộc. Nước da hần tái mét như bị thiếu ăn. Em tính đánh thức hắn dậy để chọc chơi nhưng nghĩ thế nào, cứ để yên cho hắn ngủ. Thằng cha Nguyên này cần phải gặp những người trong giấc mơ để được an ủi, để cầu cứu và để tìm lối thoát cho đời mình.
Cả đám nhậu lặng im sau khi Hữu Nhân kể xong câu chuyện về nỗi bi ai của đối thủ họ đang bị. Tôi cũng thấy mủi lòng quả. Nhưng tôi, một tổng biên tập báo, không thể bênh vực một người làm thơ phản động được. Tôi bèn bít miệng bằng một miếng tim xắt khá to, đoạn tráng miệng bằng một ly rượu thuốc.
Đoàn Như, một gã chừng ba mươi tuổi, dạy học và sống bằng nghề làm thơ thời sự. Đoàn Như có lúc đã là vệ tinh của Trần Khuất Nguyên, nay Nguyên thất thế, hắn theo về Hoàng Thi và Vũ Điệu, hắn cần phải có câu chuyện làm quà nên góp thêm một chuyện về Trần Khuất Nguyên:
– Báo cáo các anh. Em là kẻ từng chơi với Nguyên, em biết. Thứ nhất, hắn là thằng rất dễ tin người. Phải công nhận hắn yêu thơ vào loại siêu hạng, hắn là cây đuốc lúc nào cũng cháy đùng đùng. Thầy điều quấy là hắn phản đối ầm ầm như sóng bể. Cái hôm đồng chí trưởng ban tuyên huấn giảng chính trị nói về khuyết điểm của nền kinh tế. Ông hay dùng chữ chúng ta sai lầm thế này, chúng ta sai lầm thể nọ… Trần Khuất Nguyên xin phát biểu liền, hắn đốp chát: tại sao các đồng chí lãnh đạo cao cấp làm sai không chịu nhận, rằng chúng tôi sai lầm thế này, chúng tôi sai lầm thế nọ lại đổ cho chúng ta, cho tất cả mọi ngưởi. Như vậy, có nghĩa là các đồng chí ấy không dám chịu trách nhiệm, trốn tránh trách nhiệm. Chức vụ, quyền hạn, bổng lộc thì của tôi, của chúng tôi, cái hay cái đúng thì thuộc về chúng tôi, còn cái dở cái sai thì tất cả quần chúng phải chịu trách nhiệm. Đồng chí trưởng ban tuyên huấn không đủ lý cãi lại, đứng ì ra một hồi rồi lờ đi, coi như cái thằng láo lếu Trần Khuất Nguyên chưa hề có trên đời. Các anh thấy hắn ngổ ngáo bợm trợn chưa nào? Thời buổi này, đã làm thơ làm thẩn lại còn dám cả gan vuốt râu hùm, mó dái ngựa, chết là phải. Hôm qua, em gặp hắn đi bộ từ sở về nhà. Em hỏi xe đạp đâu không đi, hắn trả lời, con vợ bán hết đồ theo trai rồi. Bây giờ hắn đói rách lắm. Bây giờ, hắn thường ra bờ hồ giả bộ câu cá để trốn tránh cuộc đời.
Hoàng Thi phải ngắt lời Đoàn Như:
– Thôi, mặc xác hắn. Dại thì chết. Ai lại đi làm thơ về con vạc, về cái thớt như vậy. Đấy thớt đấy, tha hồ cho hắn ăn toàn những vết dao.
Đêm ấy tôi không sao ngủ được, cứ mở mắt là lại thấy Trần Khuất Nguyên. Cho đến lúc thiếp được đi rồi, ngủ được chết đỉnh rồi, tôi lại mơ thấy anh lính trinh sát kia ngồi đọc thơ cho những đồng đội đã chết. Té ra, trong tôi dường như vẫn còn tồn tại một Trần Khuất Nguyên.
CHƯƠNG 17 –
Trong số các cô làm việc tại văn phòng trị sự của tờ báo văn nghệ tỉnh Sơn Giang do tôi lãnh đạo, có một cô tên là Ngọc Hương, trạc ba mươi sáu, ba mươi bảy tuổi. Cô được coi là xinh nhất trong các cô công tác tại báo. Nhớ ngày đầu tiên, khi chúng tôi đang hình thành tòa soạn, có một người đàn bà đến tìm tôi. Người ấy mặc quần lụa đen, đi dép Nhật, áo mút-sơ-lin màu tím nhạt, mặt sáng rỡ, mắt lá răm to sắc kẻ chì viền hơi đậm, lông mày tỉa tót, môi son rực, mũi cao như đã sửa, móng tay, móng chân đánh màu vảy bạc óng ánh đưa cho tôi một cái thư. Đó là thư giới thiệu của ông phó giám đốc sở thông tin văn hóa. Ông xin giới thiệu với tôi người cầm thư này là cô Ngọc Hương, cơ sở cũ của ông đến xin việc ở tòa báo. Trong thư ông phó giám đốc dặn, Ngọc Hương bình sinh rất mê văn học, nay không phải túng bấn mà kiếm việc làm đâu. Rằng cô từng ước làm được ở một tờ báo văn nghệ để đỡ buồn. Rằng cô Ngọc Hương cũng có làm thơ, trước giải phóng từng tham gia thi đàn Dệt Mộng. Nhìn dáng dấp người đàn bà một lúc, tôi suy nghĩ và cân nhắc để tìm ra cái lẽ phải dùng người. Phàm một ông thủ trưởng nhìn xa trông rộng, không bao giờ nên nhận một người đàn bà đẹp vào sở mình phụ trách, nhất là người đàn bà đó đã tới tuổi sồn sồn và từng tham gia thi đàn thi điếc. Ngữ ấy mà nhận vào cơ quan, khác gì nhận một trái bom nguyên tử. Đôi mắt lá răm sắc lẻm kia khác nào lưỡi dao, có thể cứa đứt đầu đám nhà văn nhà thơ trong tòa soạn báo. Nhưng ông phó giám đốc sở thông tin văn hóa giới thiệu tới xin việc, dù cơ quan tôi đã đầy nhóc, vẫn cứ phải nhận. Đằng này, cơ quan đang phải tuyển người. Tất nhiên tôi phải nhận cô Ngọc Hương vào làm việc. Đây sẽ là cái thử thách đối với phóng viên, biên tập viên. Cậu nào lớ xớ là chết với tôi liền. Cũng hay, cần phải đặt một cái bẫy trong nhà mình, để mình còn có cái cảnh giác, nhắc mình đừng chủ quan.
Sáng hôm sau, tôi tới cơ quan đã thấy Ngọc Hương ngồi trên sa-lông chờ đợi. Thấy tôi, cô cung kính thưa chú Ba Hưng. Hoàng Thi, phó tổng biên tập đang từ trên lầu xuống, nghe tiếng chào của Ngọc Hương, bèn vừa đi vừa tưng tửng đọc hai câu thơ.
Nếu không gọi chú bằng anh
Coi như chú đã hy sanh cuộc đời.
Tôi ngượng chín người. Đồ cà chớn. Vậy mà mấy người ngồi đó đều cười tủm tỉm, kể cả Ngọc Hương. Hoàng Thi bước xuống, cùng ngồi vào sa-lông bên cạnh Ngọc Hương, đối diện với tôi nói:
– Sao Ngọc Hương lại kêu anh Ba Hưng bằng chú? Giới thiệu với anh Ba, tôi đã quen biết Ngọc Hương từ hồi mới giải phóng. Ngọc Hương xoa xoa hai bàn tay đeo nhẫn, nhún vai:
– Thưa, Ngọc Hương xin lỗi. Từ nay xin được kêu thủ trưởng bằng anh Ba ạ.
Tôi im lặng cười ruồi. Tôi là người mê quyền lực hơn đàn bà thì cô kêu tôi bằng ông nội đi nữa cũng không sao. Từ đó, Ngọc Hương nhận chức văn thư kiêm phát nhuận bút, nếu có khách tới thì mời mọc, tiếp rước, cần thiết thì mời thủ trưởng ngồi trên lầu xuống. Tòa soạn báo văn nghệ tỉnh Sơn Giang của chúng tôi tọa lạc trên một địa hình rất thuận lợi và yên tĩnh. Đó là tòa biệt thự hai tầng, có ga-ra xe hơi, vườn cây, bể cá, kho tàng, một dãy nhà phụ, là ngôi nhà của một tay bác sĩ giàu có đã đi Tây. Hàng ngày, tôi làm việc và nếu thích thì ở luôn trên phòng lầu hai. Ngọc Hương là con của một gia đình làm nghề buôn bán. Cha cô lấy vợ bé, nên ở với mẹ từ nhỏ. Mẹ cô làm ăn phát tài nên tương đối khá giả. Cô học trường nữ Gia Long rồi vào đại học Văn khoa. Đang học nửa chừng thì Ngọc Hương lấy chồng. Hai người có với nhau một đứa con gái, ở với nhau năm năm rồi ly dị. Ba năm sau, Ngọc Hương lấy một bác sĩ góa vợ. Nhưng sau khi có đứa con trai, Ngọc Hương lại bỏ về ở với mẹ. Người chồng bác sĩ đã di tản sang Mỹ trước ngày ba mươi tháng tư. Ngọc Hương khai trong lý lịch rằng cô tôn thờ chủ nghĩa độc thân. Ngày đầu tiên đến tòa soạn làm việc, Ngọc Hương mặc áo dài lụa trắng, quần lụa trang hệt như một con thiên nga khiến cả tòa soạn sững sờ. Tóc cô hớt tém kiểu con trai, chân đi dép da ngoại, cổ đeo vòng vàng, son phấn trang điểm vừa phải nên nhìn cô còn rất trẻ. Trời ơi, trong khi chúng tôi ăn mặc xuềnh xoàng kiểu lính tráng thì cô văn thư lại diện như đi dạ hội. Hoàng Thi bảo tôi cứ yên trí, mặc như vậy càng đẹp cho tòa soạn chứ sao. Nhưng tôi không thể yên trí được. Ngọc Hương có thể sẽ làm cho các chàng trai trẻ biên tập hoặc phóng viên mê mẩn hết thôi. Thấy Ngọc Hương làm việc nghiêm túc, tận tụy, tôi đã phần nào an tâm. Suốt một tuần đầu làm việc, dù không phải là người ghim gút hay bới lông tìm vết, nhưng tôi đã chú ý xem được cô thay đúng sáu cái áo dài, toàn loại vải đẹp và sang. Tôi để ý trong giờ rảnh, Ngọc Hương toàn cúi xuống đọc sách. Tôi thấy trong các đầu sách cô văn thư này đọc, có nhiều cuốn của anh em trong tòa soạn. Tôi cho là cô đang bắt mạch văn từng người, xem các chú cách mạng nhà ta múa bút ra sao đây. Sang tuần thứ hai, Ngọc Hương toàn diện đồ tây, áo bỏ trong quần, hết quần zin Mỹ đến zin nhung Mỹ, mỗi ngày một bộ khác nhau. Mọi người nhìn cô lác cả mắt. Mỗi lần cô lên phòng tổng biên tập đưa thư hay trình bày điều gì, tôi lại thấy cách ăn mặc quần zin bó sát, áo bỏ trong quần của cô mà ngứa cả mắt. Tuần thứ ba, Hương thay đổi chiến thuật bằng cách mặc toàn quần áo bà ba đen có, rực rỡ đỏ chát chúa có, mỡ gà mỡ vịt có… Đến nỗi ban biên ủy của báo phải họp hai cuộc họp, chi ủy họp hai cuộc họp để phân tích cái chiến thuật ăn mặc, thay đổi kiểu cách của cô văn thư này nhằm mục đích gì, xem có xen vào ít nhiều chính trị nào không? Tôi nghĩ bụng: đây là trò chơi để gây ấn tượng chứ chính trị chính em cái quái gì, xem thử tâm lý các nhà văn cách mạng có ngon không, có đoán được con người nội tâm của Hương không. Rằng những dự đoán của các người sẽ lăn lông lốc, sẽ trượt ngã trước sự biến hóa khôn cùng của một người đàn bà đẹp. Mặc xác sự lộng lẫy làm duyên làm dáng của Hương, tôi có chiến thuật chiến lược của tôi: lạnh như băng, cứ là nguyên tắc, nguyên tắc và nguyên tắc, không để xen vào giữa mối quan hệ của thủ trưởng với nhân viên một tí tình cảm nào. Thái độ của tôi với Hương đã được chương trình hóa. Có khi, trong cuộc họp, tia mắt tôi chạm vào tia mắt Hương, như là cô ấy ngầm tuyên bố: đạo đức giả hoài, để rồi xem đồng chí có tu hành được mãi không? Con mắt cô nhìn tôi với những chùm tia le-de thách thức, sản sàng gây ra một cuộc chiến tranh không tuyên bố. Trước Ngọc Hương, tại sao tôi không được tự nhíên, phải kên lên lên, đạo mạo lên, như anh gà trống vươn cổ lên lấy uy tín gáy mà không sao gáy nổi. Tại sao tôi không thể bình thường, không thể thoải mái như khi tiếp xúc với nhân viên nữ phái khác? Tôi nghe tiếng vị luật sư bào chữa trong mình cất lên: ồ, thủ trưởng thì phải quan tâm tới nhân viên, từ công tác đến đời tư chứ. Thậm chí đến việc cô ấy thay đổi màu sơn trên móng tay móng chân cũng đừng hòng qua mắt được lãnh đạo. Có một dạo, tôi biết tay phó tổng biên tập cáo già Hoàng Thi tán Ngọc Hương. Lý trí tôi biết rằng Ngọc Hương không sao thoát được con dê già biết làm thơ này, nhưng tình cảm tôi lại không thừa nhận điều đó. Tôi biết hết, các người đừng hòng qua mặt thằng Trần Hưng này. Đến con ruồi đực hay cái, đã chửa đễ hay thậm chí còn trinh hay mất trinh tôi còn biết, huống hồ ánh mắt si mê của tay Đông-joăng này khi nhìn Ngọc Hương. Tôi bắt đầu thấy tức anh phó của mình. Này anh kia, bông hoa của tập thể, của công viên, sao dám tự động ngắt về phòng chơi riêng là sao? Nguyên tắc là nguyên tắc: tôi, chúng tôi không đụng tới thì anh đừng có hòng mà xớ rớ được. Nhưng tay Hoàng Thi này không phải loại vừa. Vả lại, ngoài tám tiếng vàng ngọc, Ngọc Hương còn những mười sáu tiếng tự do vô tổ chức, tha hồ tưng tẩy, muốn làm gì thì làm. Ngọc Hương lại có nhà riêng, phòng riêng, nó muốn mời ai về là quyền của nó. Nhưng nếu con người của anh chỉ là của anh, vậy thì tổ chức, vậy thì chế độ không có tí quyền sở hữu nào trên người anh à? Cứ lấy cái lý ra mà nói, rằng chúng ta đang sống trong một xã hộí tập thể, một xã hội quốc doanh, sao mỗi con người lại cứ thích sống xé lẻ, tủn mủn trong vỏ ốc cá nhân vậy. Nhưng cô Ngọc Hương này đâu phải kém cô Ngát trong chi bộ của tôi thời xưa, khi bị tổ chức kiểm thảo về chuyện yêu đương. Tôi nhớ hồi đó, Ngát có chồng đi bộ đội xa, bị bắt quả tang đang hôn hít một anh cùng cơ quan. Người ta bèn lập ngay biên bản, đưa Ngát ra kiểm điểm. Trong lúc họp, Ngát đứng lên, trợn mắt, chỉ vào miệng mình hỏi: thưa các đồng chí, đôi môi này là của tôi hay của tổ chức ạ? Có tiếng trả lời: tất nhiên là của đồng chí nhưng do tổ chức quản lý. Ngát bèn vừa khóc vừa quát lên: đôi môi này là của tôi, tôi muốn hôn ai, cho ai là quyền của tôi. Chừng nào tôi dùng đôi môi của tổ chức, dùng cái miệng của tổ chức để đi hôn hít người khác thì tổ chức mới có quyền kiểm điểm chứ? Cuối cùng, tập thể, tổ chức đành chào thua cô Ngát, bởi vì cái lý của nó quá đúng, chả ai bẻ nổi. Rút kinh nghiệm chuyện này, để tôi sáng suốt hơn khi nhìn vào mối quan hệ của Hoàng Thi và Ngọc Hương. Cuối cùng, tôi nhủ thầm: kệ cha nó, khi nào bắt gặp cảnh nam trên nữ dưới mới nói, mới kỷ luật được. Tuy vậy, đôi lúc, tôi vẫn tức trào hông. Hay là mình ghen với thằng phó của mình rồi? Nếu vậy nguy lắm, coi chừng mất ghế. Từ ngày đó, tôi đâm ra ghét hai cái đứa lăng nhăng này. Tôi coi Ngọc Hương là con phản bội lại tập thể. Trong cách nhìn của tôi luôn luôn phát tín hiệu nhac nhở: tôi là thủ trưởng cơ quan đấy nhé, các người đừng có mà qua mặt được tôi. Buổi tối, tòa soạn báo văn nghệ Sơn Giang thường vắng hoe, chỉ có bác gác cổng già trông nom cửa chính, vợ chồng cậu lái xe và cô thủ quỹ ở căn nhà phụ phía sau. Cho nên đôi lúc tôi thường ở lại cơ quan, nấu ăn và ngủ lại luôn trên căn phòng tầng hai. Một lần tôi đưa tập bản thảo truyện ký của mình cho chánh văn phòng nhờ đánh máy. Cơ quan chỉ có một cô đánh máy chữ bận túi bụi cả ngày. Chánh văn phòng báo cáo với tôi là tập bản thảo của tôi nhờ Ngọc Hương đánh máy giùm. Tôi chấp nhận mặc dù rất ghét Ngọc Hương. Lẽ nào tôi lại nỡ phủ nhận nhiệt tình của nhân viên mình, theo kiểu dội gáo nước lạnh vào gáy người ta. Chiều đó tan sở, Ngọc Hương không về. Cô ra ngoài ăn phở rồi vô đánh máy bản thảo cho tôi. Buổi tối hôm đó tôi ở lại cơ quan, sau khi tự nấu cơm ăn xong đang tính mở đài nghe thì có chuông điện thoại. Tôi cầm ống nghe lên thì ra là giọng Ngọc Hương
– Dạ thưa anh Ba. Em đã đánh đến trang thứ mười hai của bản thảo, chỗ này anh viết em đọc không được rõ. Cho phép em gặp anh hỏi lại được không?
Tôi vui vẻ: – Tốt thôi, mời đồng chí lên.
Bỏ máy xuống, tôi đứng phắt dậy soi người trong gương, chải lại đầu tóc, xếp lại cổ áo pi-gia-ma, coi mặt mũi có vết nhọ nào không vì ít ra cũng cần phải biết lịch sự với phụ nữ. Tự nhiên, tôi cảm thấy hồi hộp. Tôi tự mắng mình: đồ khỉ, làm như bồ bịch không bằng, nên nhớ rằng anh là tổng biên tập báo đấy nhé. Đừng có mà nghĩ đông nghĩ tây, kẻo lại mềm nhũn người ra như con chi chi, có cái xương sống lập trường lại oằn xuống thì có nước ăn cám. Tôi đã nghe tiếng guốc lên cầu thang. Rồi một tiếng gõ cửa thật êm. Tôi mở cửa. Ngọc Hương hiện ra. Tôi choáng váng tí nữa ngã quỵ. Toàn thân cô cháy rực trong một chiểc rốp mới thơm nức mùi nước hoa đất tiền. Tôi mời cô nhân viên không mấy dễ lãnh đạo bằng lý trí vào phòng. Cô nhìn tôi, khẽ mỉm cười:
– Xin lỗi, em đã làm mất sự yên tĩnh của anh Ba.
Tôi mời ngồi nhưng Ngọc Hương vẫn còn đứng giữa phòng một lúc. Hình như cô muốn tôi đủ thời gian ngắm cái giò dài thon rất đẹp của cô. Cặp giò này làm tôi lạnh toát cả người. Đời tôi có đảng và có chúa làm chứng, chưa bao giờ được nhìn thấy của lạ thế gian như vậy. Cô như một thiếu phụ của giới trưởng giả bước vào căn phòng của anh nhà văn nửa nhà quê nửa phố huyện, cả đời chỉ biết một người đàn bà là vợ mình, cũng quê kệch, cũng ấm ớ và ưa lý sự như mình. Chừng như đã đủ cho tôi chết ngợp, Ngọc Hương bèn ngồi xuống ghế sa-lông, gác chân chữ ngũ khiến tôi càng bị động. Ngọc Hương, người đàn bà biết làm chủ mọi tình huống bằng chính thân xác mình, giở bản thảo của tôi ra hỏi:
– Thưa, đoạn này em đọc không rõ chữ, nhờ anh chỉ giùm em.
Tôi gạt chuyện bản thảo bản thiếc đi:
– Thôi Hương, để uống nước đã. Cô giúp đỡ tôi tận tình như vậy mà tôi lại quá mất lịch sự đi.
Ngọc Hương gấp tập bản thảo lại:
– Có gì đâu ạ. Được phục vụ anh Ba là niềm vui của em.
Tôi lóng ngóng pha cacao sữa mời khách. Tôi quên béng mất chuyện cô ta là lính, còn mình là thủ trưởng. Ngọc Hương cầm ly cacao sữa uống. Cô ăn nói như hát. Mắt cô nhìn tôi không chớp khiến tôi đánh rơi cái muỗng xuống sàn. Tôi chưa kịp cúi xuống lấy thì Hương đã lấy giùm tôi. Tôi nhìn thấy rất rõ cái cổ của cô, cái vai của cô. Trời ơi, vai ra vai và cổ ra cổ nhé như không còn là vai với cổ nữa mà là một miền toàn ngọc với ngà. Tôi như kẻ đang đánh đu trên các sự vật. Lẽ nào Ngọc Hương đã thôi miên tôi? Thấy tôi nhìn, Ngọc Hương bèn cúi xuống, chân cô di di trên tấm thảm len trải nhà như một con mèo nghịch nang. Tôi nhìn bàn chân cô như nhìn thấy cái khoảng trống của đời mình. Qua khoảng trống ấy, tôi chợt phát hiện ra thế giới này với tôi vẫn chỉ là một khoảng tối không đáy, cần phải có người đàn bà nào đấy tỏa ra một thứ ánh sáng huyền nhiệm để tôi phát hiện ra mọi điều. Nhưng khi Ngọc Hương vừa phát hiện ra chất men của mình đã đủ ngắm vào lòng tôi, thì cô dừng lại. Cô cương quyết hỏi đoạn tôi viết trong bản thảo cho rõ rồi xin phép xuống nhà đánh máy tiếp. Tôi tiễn cô xuống cầu thang cuối cùng, nơi mách bảo với tôi rằng quan hệ của tôi và Hương bao giờ cũng chỉ là thủ trưởng với nhân viên, chứ nhất quyết không phải là mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà.
Về phòng, tôi mở cuốn sách ra đọc nhưng chẳng thấy chữ đâu, chỉ còn toàn màu đỏ của cái rốp, màu ngà voi của cặp đùi, màu hồng nến của ngón chân ngón tay. Tôi quyết định nằm xuống và ngủ. Nhưng tôi càng nhắm mắt, ma quỷ càng cám dỗ, càng nhìn thấy rõ bờ môi khoé mắt của Hương.
Tối hôm sau, Hương vẫn ở lại đánh máy tới khuya. Tôi xuống tầng dưới, ghé tai vào cửa sổ để nghe rõ tiếng lách cách của máy chữ. Tôi lên phòng, ngồi gần máy điện thoại xem Hương còn hỏi gì về bản thảo nữa không. Đến chín giờ tối, tôi leo lên sân thượng nhìn thấy bóng Hương ra khỏi cổng cơ quan, ngồi lên chiếc P.C. rồ máy. Tiếng cánh cổng sập lại và tiếng khóa bác gác cổng đang khóa làm tôi buồn quá. Đến tối thứ tư thì tôi không thể làm cao mãi được. Tôi phải hạ mình xuống mời Ngọc Hương nghỉ tay đánh máy lên lầu uống nước. Hương từ chối mãi mới chịu nhận lời. Cô bảo tôi lên trước, cô sẽ lên sau đó chừng mười phút. Tôi chờ cô sao thấy lâu vậy. Một lần nữa, Ngọc Hương lại làm cho tôi bổ ngửa. Cô mặc một bộ váy ngủ trắng tinh, mỏng tang, khêu gợi, ỏn ẻn cầm cuốn sổ nhỏ bước vô phòng. Tôi mở mấy lon bia ngoại chuần bị sẵn mời khách. Qua ánh đèn nê-ông, tôi thấy Ngọc Hương hôm hay son phấn kỹ hơn, còn đeo cả lông mi giả. Ôi, cả đời, tôi chỉ toàn sống với kiểm điểm, viết văn, kháng chiến, học nghị quyết… đã bao giờ ở gần một người đàn bà thành thị sành điệu và rực rỡ như thế này? Son phấn kia, lông mi giả kia, áo quần kia, thân thể kia như thể từ trời vừa rớt xuống, tôi có cảm tưởng chỉ cần đụng nhẹ tay vào là tan biến mất. Tôi mời Ngọc Hương uống bia. Cô không từ chối. Nhìn cô uống, tôi hưng phấn tới mức quên giữ gìn khoảng cách:
– Hôm nay, sao Ngọc Hương đẹp quá.
Cô bĩu môi:
– Em đâu có đẹp. Chẳng ai nhìn em cả đâu.
Trời ơi, tôi không còn là ông tổng biên tập đạo mạo nữa hả trời? Tôi đã thành một gã đàn ông tán gái. Sao tôi lại huyên thuyên với Hương đủ chuyện, giữ cô ở lại phòng này hết đêm nay ư? Mặc xác tòa soạn, mặc xác công việc em ạ, mai ta hãy lo. Bây giờ ta nói chuyện văn học đi, tôi bảo Hương như vậy. Ngọc Hương đưa cho tôi cuốn sổ bảo:
– Em làm thơ đấy. Nhờ anh coi giùm. Đừng cười nha.
Tôi cầm cuốn bản thảo đã chép sạch mở ra đọc. Tôi chẳng còn nhìn thấy chữ nghĩa gì ráo. Đầu tôi đang quay cuồng cùng với cái váy ngủ trang kia.
Hương bảo tôi:
– Đèn nê-ông chói mắt quá. Anh tắt giùm em, mở đèn tròn cho ấm.
Tôi làm theo như một nhân viên của cô, còn cô thì hóa ra một thứ tổng biên tập mới. Căn phòng vàng vọt lại. Tôi bảo cô để cuốn sổ thơ lại, tối mai tôi sẽ góp ý. Tự nhiên, Hương nhìn tôi như rút hết ruột gan rời đứng phat lên đòi về.
Nhưng cô vừa bước ra khỏi ghế thì tôi cầm tay cô giữ lại.
Cô dùng bàn tay kia vuốt nhẹ cánh tay tôi. Phải nói thật nghiêm túc là lúc đó, tôi mê đại như người say sóng. Ngọc Hương đột ngột dùng hai cánh tay níu lấy cổ tôi kêu say bia quá. Tôi đã bị quỷ ám, cứ theo thứ tự của bản năng mà làm. Tôi dìu Hương vào giường. Tôi xiết lấy đau cô hôn như mưa đá. Người đàn ông trong tôi kỳ lạ thay, đã thức dậy một cách hết sức mãnh liệt. Với Ruộng, sao tôi thành kẻ bất lực, còn với Ngọc Hương, tôi là một con người rất bình thường, rất khác, rất sung mãn…
Tôi tắt đèn. Chúng tôi nằm bên nhau tới sáng. Sau đó, suốt ba tối liền, tôi và cô văn thư vẫn tiếp tục với nhau cái trò yêu đương vụng trộm ấy. Hai chúng tôi cứ im lặng hành sự. Nhưng Hương không chịu ngủ lại phòng tôi như tối đầu nữa. Ban ngày, nhìn Hương, tôi cảm động đến độ đỏ mặt.
Nhưng cô ta vẫn lạnh tanh, làm như giữa chúng tôi chưa hề có chuyện chăn gối ấy. Đến ngày thứ năm, khi cuộc tình của tôi với Hương đang lên cao vút như lời một bài hát thì cô xin phép nghỉ ở nhà vì đau bệnh. Tôi nhớ Hương vô cùng. Tối hôm ấy, Hoàng Thi mời tôi sang phòng làm việc của anh ta uống cà phê. Sau khi uống cạn phin cà phê, hút gần hết điếu thuốc ba sổ, người phó tổng biên tập của tôi bảo tôi:
– Anh Ba Hưng ơi, tôi có cái này hay lắm, bên công an văn hóa vừa gởi cho tôi. Họ nói với tôi và anh nên giải quyết trên tinh thần nội bộ, đảm bảo danh dự cho nhau. Tôi tái mét mặt. Hoàng Thi lôi từ trong cặp ra một cái máy ghi âm bằng bàn tay đứa trẻ mười tuổi, chạy pin tiểu. Anh ta ấn nút băng ghi âm làm tôỉ hết hồn dựng tóc gáy, toát mồ hôi. Cuốn băng ghi lại toàn bộ cuộc nói chuyện, cuộc tán tỉnh yêu đương ân ái của tôi với Ngọc Hương hai tối cuối cùng. Tôi gục xuống bàn, xỉu đi đến mười lăm phút mới tỉnh dậy. Tôi hiểu liền. Trò gài bẫy quái ác này chắc chắn là do thằng Hoàng Thi đạo diễn, cốt để lật tôi chứ công an nào. Tôi đã bị hai đứa Hoàng Thi và Ngọc Hương đẩy vào hố tuyệt vọng, như đẩy tôi vào cỗ quan tài cuối đời. Hoàng Thi hỏi tôi:
– Anh bình tĩnh chưa?
– Rồi. Vậy anh nghe tôi nói đây. Hoặc cuốn băng ghi âm này sẽ vào tay vợ anh, vào tay tỉnh ủy và các cơ quan hữu trách. Hoặc là anh phải ký vào đơn xin từ chức tổng biên tập tở báo văn nghệ Sơn Giang. Giữa hai cái xin anh hãy chọn một. Đây, bản đánh máy đơn xin từ chức của anh đã có sản, nếu anh chịu, xin ký vào ba tờ. Tôi chẳng còn hờn vía gì nữa. Đởi tôi coi như đã chấm dứt. Tốt nhất là không nên gây gổ hay chửi bới gì Hoàng Thi và Ngọc Hương. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi đọc bản đánh máy sẵn đơn xin từ chức tổng biên tập do Hoàng Thi đưa cho. Trong đơn ấy được viết rằng vì tôi sức khỏe kém, thứ hai không quen làm công tác quản lý, thứ ba là lớn tuổi rồi, cần có chết ít thời gian viết, xin để đồng chí Hoàng Thi lên thay làm tổng biên tập báo. Tôi lặng lẽ ký vào ba tờ đơn do Hoàng Thi thảo ra và chắc là Ngọc Hương đánh máy, như một con rối được điều khiển bằng chất siêu dẫn. Hoàng Thi cám ơn tôi rồi cười cười bảo:
– Xin anh giữ- một bản, tôi giữ một bản, một bản ta nộp tên tỉnh ủy và ban tổ chức. Đây, cuốn băng ghi âm đây, xin trả anh để giư làm kỷ niệm.
– Thôi, xin anh cầm giùm cho. Tôi lầy cái thứ chó má này làm gì.
Hoàng Thi vui vẻ: Thôi, để tôi giữ hộ cho vậy. Ngày mai anh phải đệ cái đơn từ chức này lên tỉnh ủy ngay. Hắn ra lệnh cho tôi. Từ nay, mãi mãi tôi sẽ bị nỗi sợ hãi điều khiển như cái roi điều khiển con ngựa.
(Còn tiếp)
Trần Mạnh Hảo

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.