Đọc tiếp “XÓM CỤT ” của Đỗ Thành(phần7,8,9 và 10)

Tôi lựa mãi mới được một ngày để “ thưa “ với vợ (vì tôi đang bị vợ con quản lý mà) : này bà, cái ông thợ sửa xe ngoài đầu ngõ rủ tôi ra làm chung. Vợ chẳng ừ hử gì cả, tôi cáu tiết, quên luôn đang bị vợ giáo dục, nên mắng ào ào : bà có nghe không mà sao nín thinh vậy. Vợ tôi sụt sùi muốn khóc, tôi ân hận vô cùng. Định dịu giọng dỗ, nhưng cục tự ái đứng sừng sững chặn cổ họng, tôi bỏ đi.

Vợ gọi giật lại : em đâu còn đồng nào góp vốn với ông ấy để anh ra làm nên em chẳng biết nói sao. Tôi cảm động thưa thốt : ông ấy vốn là phe ta ngày trước nên rủ rê anh ra làm cho vui, cho khuây khỏa, chứ bó rọ ở nhà mãi khùng mất.

Và để vợ khỏi băn khoăn, tôi nói luôn : ông ấy chẳng cần góp vốn gì cả, lại chia việc rành rẽ, phần kỹ thuật ông ấy lo, anh chỉ chờ có ai bảo bơm thì nhấn xịt xịt một lúc, được bao nhiêu ông ấy dành cho anh tất, bảo để hút thuốc hay mua quà cho bọn nhóc.

Mắt vợ tôi dân dấn, cô không ngờ thời buổi này còn có kẻ chịu cưu mang nhau đến vậy. Tuy thế, nàng cũng lưu ý tôi : liệu mình làm thế có lợi dụng ông ấy không ? Tôi điếng vì chưa nghĩ đến ý này bao giờ.

Chờ hoài không thấy tôi lảng vảng ra chuyện trò, nên lần thoáng thấy tôi, anh thợ sửa xe kêu inh lên : ông thầy, sao chuyện làm ăn tính tới đâu rồi. Tôi chân thật kể hết lời vợ với anh. Anh gãi đầu xoành xoạch : chèn ơi, sao lúc này mà cô còn cố chấp vậy chớ. Và anh đon đả giữ tôi lại, không cho về, còn nhắn nhe : để chiều em qua thăm thưa chuyện với cô luôn.

Tôi không ngờ mình tệ hại đến thế. Việc hết sức đơn giản mà không tự nói gẫy gọn với vợ, nhưng thời buổi thuộc về một đẳng cấp khác mất rồi làm sao tôi mở miệng nổi. Thế là từ đó sáng sáng tôi theo chân anh ra, cùng bán mặt cho trời, phơi lưng cho nắng, rủng rỉnh cũng có đồng ra đồng vào uống cốc nước, ăn que kem hay nói đấu láo với nhau khi vắng khách.

Tình chiến hữu không khơi cũng đầy ăm ắp, chẳng mấy chốc coi nhau còn hơn ruột thịt trong nhà. Tôi mượn tâm tình một bận hỏi anh : có khi nào anh được tin cô ấy ở đâu chăng ? Anh lặng đi, ngẫm nghĩ, thở dài, lí nhí nói : nếu biết thì nói làm gì, ông thầy. Đằng này cô ta đi biệt… và như sực nhớ ra, anh chêm thêm : chưa chừng cô ta hoặc gửi xác ngoài biển cả, hoặc bị bắt vào tay bọn hải tặc, chớ nếu không ít nhất cũng phải có một lần gởi tin về..

Mắt anh bỗng quắc lên dữ tợn, nhìn thông thống lên trời, nghiến chặt răng trách bâng quơ : thế giới làm ngơ để bọn bất nhân chặn đường hiếp đáp người vượt biển. Tôi thấy bàn tay anh co lại thành nắm đấm đập bình bịch vào lòng bàn tay kia. Tôi muốn cất một lời an ủi mà cổ họng nghẹn cứng. Chẳng có nỗi buồn nào kém nỗi buồn nào vì tất cả đều chung một xuất xứ vô phúc như nhau.

Tệ hại nhất là mùa mưa, nước chợt đổ ào ào, nắng chợt nóng hun dữ dội, y hệt cô bé đỏng đảnh làm duyên làm dáng. Anh thợ cụ bị đầy đủ nên hễ thấy trời ui ui, mây đen giăng kín kịt là vội căng tấm bạt được nối với nhau bằng những bao đựng gạo ni lông tháo banh ra. Bốn đầu anh cột bằng sợi dây lòi tói gá nhờ vào gốc cây hoặc hàng hiên của căn nhà gần đó.

Trời miền Nam õng ẹo đến hay. Mưa chẳng ra mưa, nắng chẳng ra nắng, ào ào giận dữ trút một hơi như hắt nước vào mặt rồi êm re. Bởi mới nóng hiu nóng hắt. Những giọt nước còn đọng trên nhánh cây, cành lá kế đó rớt độp độp từng chặp, nghe thật là buồn. Những lúc đó, anh thợ thường đặt cho tôi những câu hỏi mà tôi ngọng không sao giải thích được : hổng lẽ cuộc đời cứ dai dẳng như vầy hoài sao hở ông thầy.

Sau biến cố, tôi nghĩ rằng lòng ai cũng nát ngấu như tương, âm ỉ một tương tư chỉ cần ai khơi là bùng lên cháy dội. Nhưng biết nói thế nào khi mà quyền lực hay cơ hội mảy may đều bỏ ta đi, không nhìn lại nữa. Hai anh em chỉ còn biết an ủi nhau qua quít cho xong.

Mỗi khi khách ghé đến kêu bơm bánh xe, ai cũng than ruột vá đi vá lại hoài mà hơi không giữ được. Người thì kêu đầu van bị hư miếng chặn, người thì nói vỏ được lót chằng lót đụp mà xẹp vẫn bị xẹp, không nói ra ai cũng biết còn thứ gì trụ lại sau một thời điên đảo. Keo chẳng ra keo, ruột mọt tưa như cám vụn thì làm sao mà bền bỉ xài hoài.

Giả như ngày trước chỉ cần chạy loáng ra chợ mua cái lốp mới, ruột mới là xe lại chạy nhong nhong. Bây giờ đất nước đang “ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội “ thì thứ gì cũng thiếu. Các ông ấy bảo tại hậu quả do Mỹ ngụy để lại nên từ từ sẽ khắc phục. Thản hoặc lâu lơ lâu lắc nghe kháo nhau có lốp Sao Vàng mới về, thì chế độ phân phối chỉ dành cho cán bộ ưu tiên. Vậy nhưng có tiền thì của gì cũng có, cũng mua được.

Hàng tuồn ra hoặc từ nhân viên cửa hàng mậu dịch, hoặc qua trung gian con phe con phẩy, thậm chí còn từ chính các cán bộ thấy giá hời thì bán quách lấy một món tiêu đã. Cho nên manh nha việc áp phe, kết bè kết cánh, hoặc bắt tay nhau bòn rút tiền, hàng để gây dựng tài sản riêng. HÌnh như máu tham nhũng cũng từ chế độ trước truyền lây sang cho những người về từ rừng núi ngày nao.

Ngồi nhìn anh thợ tẩn mẩn dùng chiếc đục tháo từng mắt xích, lộn trở lại để nối kết với nhau, anh bảo đó là lộn ổ xên, chăm chăm chút chút lúc chẳng có việc làm. Hoặc rảnh nữa thì vơ quàng mảnh giấy báo đọc không còn chừa một hàng, một chữ. Anh thợ bảo từ ngày có tôi thì đỡ nản hơn, dù gì cũng ba hoa chích chòe được vài câu dăm tiếng. Phần tôi cũng đỡ bực bội vì quanh quẩn trong xó nhà, bớt được những nghĩ suy yếm thế và tuyệt vọng. Bọn nhỏ khi ở trường, lúc chạy chợ buôn nước bọt hay nhận chạy hàng để được chia tí tiền còm. Vợ tôi thì lăng xăng cơm nước, hay lội ra ao cắt rau, phụ dọn chuồng nuôi lợn với bà xã ông cán bộ.

Cuộc sống làng nhàng cho qua ngày đoạn tháng, cố tình thu nhỏ người để khỏi bị phân bổ đi kinh tế mới. Có lần bà vợ về nhỏ to với tôi rằng bên bà cán bộ hứa nếu bị bình bầu phải giãn dân thì bà sẽ góp lời bênh vực hộ với phường khóm để gia đình tôi không rơi vào tình huống không mong đó. Chả biết thực sự lời nói vào của ông bà có tác dụng được ai chăng, thế nhưng sống giữa cảnh trên đe dưới búa thì y như anh buồn ngủ vớ được mảnh chiếu rách hay mục cũng còn hơn là không có gì hết.

Lầm lũi thời gian trôi đi, năm đầu tiên lệnh cấm đốt pháo ngày Tết, nhà ai chẳng thăm nom, tay khu vực là đến xông đất nhà tôi. Nói là đạp chân ngày tư ngày tết là nói cho có vẻ, chứ thực tình là tay ấy muốn củ soát xem gia đình tôi tuân lệnh cấm thế nào. Quả thật miệng ăn còn chưa ra, lấy đâu tiền mua lăng nhăng đốt cái toẹt tan xác, thế nhưng vì tôi là đối tượng nên có dịp hù dọa được thì chẳng ai mà không muốn nạnh họe.

Điều này chẳng phải là tôi hình dung mà chính từ cửa miệng tay khu vực huênh hoang nói : kể ra chú cũng biết sợ đó chứ và thế là rồ máy xe chạy mất. Tôi giờ như con dế bị bẻ càng, cánh bị rách thủng, có muốn cọ để thành tiếng gáy te te cũng lịt xịt không ra hồn ra dáng. Vả chăng, tránh voi nào xấu mặt, dại gì khua môi múa mép với người luôn nhằm đến mình nên vạn nhất làm thinh là tuyệt hảo.

Anh thợ sửa xe có phần bạo dạn hơn tôi nên đôi lúc còn ngang phè lí lắc. Anh phàn nàn với tôi : các bố khoe mẽ là tử tế, sống có văn hóa mà lườm nguýt nhau như cáo. Anh này tị nạnh anh kia, nhìn nhỏ nhau như rình trộm, ngày xưa cùng trong cảnh lận đận thì yêu nhau ra rít, bây giờ anh có quyền lờ tịt bạn cũ hồi nao.

Anh có vẻ tự hào về nếp sống tình nghĩa của chúng tôi. Anh đâm thọc một câu làm tôi nghe ớn : các bố trước xúi khôn xúi dại đấu tranh ở nơi nào có áp bức, bây giờ mà tay nào cứ mửng đó đem ra xài là bị thí chốt liền. Cho nên ông Thiệu có thể sai sót ở đâu không biết, chớ câu ông ấy dặn “ chớ nghe những gì Cộng Sản nói…” là trúng phóc.

Riêng về ông thương binh hưu chẳng thấy có cái xe dù chỉ là xe đạp nào cả. Tháng tháng lên phường lĩnh gạo, lĩnh tiền thì lóc cóc lội bộ, vác lệch vai, lệch lưng. Thế nên bà vợ cay cú cứ moi việc này ra càu nhàu : tội nghiệp chồng tôi, bằng khen, huy chương thì lắm mà chỉ có đôi chân làm phương tiện ưu tiên. Ông cán bộ có mắng át thì bà càng mạnh miệng : phải, ông chê tôi là đần là chậm, nhanh như ông mà không chớp vội một cái ghế yên lành để ngày nay trẻ ranh cũng mắng mỏ, bắt tình bắt tội ông được.

Thời thế, thế thời, đúng là vận vào câu “ thằng mù cõng thằng què nhếch nha nhếch nhác “. Thế nên, đi đâu ông cũng ba chân bốn cẳng, miệng nói chân bước, ngoe nguẩy thoáng lẩn liền. Lắm khi, tạt ngang gian hàng sửa xe, ông chỉ kịp “ chào các ông bạn “, hai anh em tôi chưa kịp đáp thì ông đã lặn mất vào trong xóm. Chả bao giờ thấy có khách đến chơi hay rì rào tiếng mời ăn uống, hai ông bà củ mỉ cù mì nhấm nhẳng lẫn nhau và lăng xăng với ao rau, chuồng lợn.

khu ổ chuột1

Phần 8

Trong số những chuyện tán gẫu với nhau khi vắng khách đến sửa hoặc bơm xe, hai anh em chúng tôi thường cùng nhau bàn luận những sự việc đã qua. Đành rằng có nói gì đi nữa thì cũng chẳng gỡ được thân phận mình, nhưng ít nhiều anh em cũng hả hê vì gạt bớt được một vài ấm ức ghim trong dạ.

Gẫm lại hơn 20 năm chinh chiến, biết bao máu đổ thịt rơi, biết bao người trai trẻ cả ở hai bên giới tuyến hằm hè giết nhau vô tội vạ, cuối cùng hai anh em vẫn chẳng hiểu tại sao lại có cuộc chiến này.

Ở phía bờ Nam có lúc được gọi là tiền đồn của tự do ngăn chặn Cộng Sản thì dường như chiến tranh chỉ ở vào những người kém thân, kém thế, hoặc ở những ai quá chậm chạp, thật thà. Bởi không thể chọn con đường nào khác, vào chiến khu thì sợ thiếu ăn, hứng bom đạn, lại vi trùng sốt rét đeo đẳng tàn phá suốt cuộc đời, còn ở lại thì tiền chẳng có, quen chẳng lớn, biết chạy đâu ra một chân du học hay một chỗ an toàn miễn dịch.

Cho nên, tiếng là hi sinh để bảo vệ cuộc sống, giữ vững mảnh đất cuối cùng mà quanh đi quẩn lại chỉ là con nhà thường dân hay bần cố. Cóc thấy một mặt con các tướng nào xông pha nơi trận mạc. Nói mạnh miệng như thế e có võ đoán và hơi quá đáng, song con số những nhà nòi chịu dấn thân vào chinh chiến e không quá một bàn tay.

Chúng ta đã có một Đỗ Cao Luận chết khi bị địch tràn ngập hoặc một vài người nữa và chỉ thế thôi. Còn hiếm có một Bernard De Lattre De Tassigny dám bất cần bám hơi danh bố để chết tại Vĩnh Phúc Yên chẳng hạn. Các cậu ấm, cô chiêu chỉ nhông nhổng quanh thủ đô, sáng điểm tâm chiều vũ trường và đàn đúm làm những chuyện tào lao, bậy bạ.

Chúng ta cũng có những anh, những chị chấp chổm vừa qua mảnh tú tài là gia đình lo chạy đôn chạy đáo để được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cử đi du học. Buồn là những người này ơn mưa móc chạy trốn đau thương từ một chế độ dung dưỡng để rồi khi sang đến nước người lại chọn đứng vào hàng phản bội nơi đã ưu ái cho mình ra đi. Mạnh miệng kêu gào ngưng chiến chính là những cái loa ông ổng này.

Trong khi khắp từ những vùng dầu sôi lửa bỏng như Tam Quan, An Nhơn, Thiện Giáo hay An Lộc, Pleime, Quảng Trị, Kontum đều đỏ lửa mịt mùng thì các cậu ấm hết bù khú với nhau bằng sâm banh, rượu đỏ lại pác ti này, lễ hội nọ với nhau.

Lãnh đạo hầm hè nhau tranh ghế, buôn chức, buôn quyền. Các bà lớn xúm nhau làm áp phe chạy tỉnh, quận trưởng. Ai cũng nghe rõ mười mươi bà trung tướng này, ông thiếu tướng nọ ngang nhiên xẻ nhà xẻ đất cho bọn đàn em để tìm vây cánh. Những vụ buôn còi hụ Long An đều có bàn tay các bậc phu nhân dúng vào, song khi bại lộ thì chỉ những con dê tế thần bị đem nướng.

Chả thế mà người chiến binh khi về đến thành phố bực bội vì những cảnh trái tai gai mắt đã biến thành kiêu binh hay quậy phá. Tội nghiệp là hết đợt này đến đợt khác, hàng hàng lớp lớp thanh niên xô nhau vào Dalat, Thủ Đức, Đồng Đế, Lam Sơn, Sông Mao, Hòa Cầm để học bò, học lăn, học ngắm, học bắn.

Những đoạn đường chiến binh thấm đầy mồ hôi lính, dây tử thần mỗi khóa cho phép thí dăm ba con, mỗi ngày những chuyến trực thăng tải thây, tải thương đổ về các quân y viện hay nhà vĩnh biệt Nghĩa Trang Quân Đội không ít những người hi sinh hoặc bị đạn cùng người.

Chiến tranh chỉ có nơi những người như thế. Cùng sinh tử như nhau mà bản thân binh chủng này, quân chủng nọ vẫn còn hoặc xem thường, hoặc gắn bó nhau vì huy hiệu mang nơi cánh tay hoặc đồng hoặc dị.

Bảo sao mà ngay giữa thủ đô chẳng thiếu những bài hát “ gia tài của mẹ là khúc nhạc buồn “. Bảo sao văn chương không có những bài thơ kiểu “ đêm Sông Mao vô nhà đĩ uống rượu, quên chút đời cực khổ ngoài kia “.

Chiến tranh còn ở tận đâu đâu. Cho nên ông nhà thầu khai thác gỗ vẫn ngang nhiên đưa xe be vào rừng. Một mặt chịu đóng thuế cho du kích hoặc nhận mua thuốc men, gạo thóc tiếp tế để được dễ làm ăn. Một mặt chịu chi cho khắp các quan để hợp đồng một thì tham lam khai thác thành hai, ba, bốn. Bởi vậy mới gọi là nghịch lý điên đầu.

Những tay càng bị báo chí phanh phui làm bậy thì càng thăng chức ào ào. Thậm chí một ông buôn khét tiếng chính quyền miền Tây mà bỗng thăng thành Cố Vấn mới lạ. Có một dạo người ta đồn : thượng cấp thì buôn chức, trung cấp thì áp phe, hạ cấp thì buôn bằng, có nơi nào đánh giặc mà cứ như cưỡi ngựa xem hoa đủng đỉnh thế chăng ?

Đó là phía bên này, còn phía bên kia thì sao ? Đã gọi là gốc gác Việt thì ở đâu cũng thế. Những người được phân về các sư, trung, tiểu, đại đội đều là con em nông dân hết cả, cũng có các cấp chỉ huy nhưng chữ thọ của họ vững vô vàn. Miền Bắc khác mình là họ dám làm những điều mình e ngại, ai không nghe họ dám bóp chết không tha. Họ dùng hộ khẩu và chế độ tem phiếu để xiết chặt lòng trung thành, cho dù ngoài mặt vẫn được bọc nhung rất êm mềm, mịn dịu. Họ dựng đứng những sự việc không có mà vẫn đốc thúc được căm hờn khiến ai cũng hăm hở ra quân. Người nhẹ cân phải lận dấu đá cho đủ để được hãnh diện trúng tuyển vì nhỡ bị loại thì nhục vô cùng.

Cả một trường rủ nhau xung vào đoàn “ vượt Trường Sơn đi cứu nước “. Ai nghe rằng dân miền Nam đang bị đói ăn, thiếu mặc, bị kìm kẹp mà chẳng ham đi “ giải phóng “ đồng bào. Người đi cứ đi, hậu phương chắt chiu ki cóp dành “ hũ gạo kháng chiến, thước vải tình thương “ để cưu mang miền tổ quốc thành đồng.

Mọi người ngây ngô đều tin đó là sự thực, đó là chân lý, đó là cứu cánh cần phải đạt tới. Một thế hệ, một lớp tuổi có phải hi sinh thì cũng đáng giá chớ sao. Những gia đình có hàng dăm ba con thành liệt sĩ, bàn thờ chưng ảnh mà vẫn cho là mình làm đúng việc cần làm. Những người vợ có “ chồng đi biền biệt “ vẫn tin là người yêu mình đang đi cởi trói cho lê dân.

Có ai biết đâu đường Trường Sơn đã nuốt đi bao nhiêu thân người đang ăn đã cuống cuồng vứt cả cơm mà chạy bom dội. Những cô gái vừa trông thấy nhau đã khóc vì chẳng còn biết người bạn thây gửi nơi đâu. Những quyển nhật ký được viết cho Mẹ, cho Chị, cho Vợ, cho Em để rồi ngày hòa bình đều được san nhuận và bổ đính lại, in thành sách để vớt vát nốt ý đồ đánh bóng một thần tượng.

Trước chiến tranh, người ta rêu rao “ nơi nào có áp bức thì ở đó có đấu tranh “. Giờ hòa bình, đất đai là của công, nhưng riêng các quan thì được phép bán, dổi, chia chác, sang cho bạn bè, con cái, bên chồng lẫn bên vợ. Hẳn nhiên người ta đưa ra danh xưng rất đẹp như là xây công viên, hội trường để rồi vỡ lẽ ra thì không là khách sạn cũng là cho tư bản nước ngoài thuê để làm sân cù hay cơ xưởng.

Thế thì đất là của công sao lại chỉ các ông được phép bán chia còn dân chúng thì không. Ai hó hé, tương ngay cho một án “ gây rối loạn trật tự “ là êm xuôi hết. Đúng là chân lý ở bên này dãy núi Pynérées và bên kia thực rất khác hẳn nhau. Cũng là một hình thức bất công mà đấu tranh với phía đối nghịch thì được, còn hô hào (chỉ hô hào thôi) với phía ta thì phạm pháp rành rành.

Bây giờ tỉnh ra thì ai cũng lặc lè chịu chết. Chẳng những đồng bào trong Nam mà ngay các gia đình mấy đời có công, có người nằm xuống cho chế độ vinh danh thì nay cũng là nạn nhân tuốt tuột.

Thành phố anh em chúng tôi ở rất nhỏ, hiền hòa, vậy mà xầm xì đã nghe nhiều tiếng than van của các bà mẹ có con đi núi. Có người mạnh miệng hô toáng lên : ngày xưa ai nuôi bọn mày, giờ nỡ xử tệ trả công. Có người còn tỏ ra tiếc nuối : biết thế hồi đó tao xối đại nước sôi xuống hầm bay cho xong. Ôi những lời da diết nghe mà muốn trào nước mắt.

Thành phố anh em chúng tôi có một dạo đi đâu cũng đọc thấy lời viết bằng sơn, bắng phấn : Ùm Cối mà chẳng ai hiểu muốn nói cái gì. Ai cũng cho đó là lời ngơ ngẩn của người điên thời đại nên chỉ lặng lẽ nhìn nhau thầm hỏi mà thôi. Mãi đến khi ba món phim bộ Hồng Kông, Đài Loan nhập vào, người ta buồn đua nhau mướn coi cho qua ngày đoạn tháng. Nhà nước cũng khuyến khích để bàn dân thiên hạ mãn lo thương vay khóc mướn vì những vai diễn Tàu, Nhật, Hàn Quốc mà quên phéng đi chuyện nhỏ to khiến họ phải nhức đầu.

Thế rồi nghe xí la xí lô trong phim Tàu tiếng Ầm Cói mới biết là họ lăng xăng cám ơn nhau thay cho tiếng “ tố chè “ thuở nao. Thì ra thiên hạ đổ xô nhau cám ơn mà chẳng biết cám ơn ai. Có thể cám ơn nhờ hòa bình mà mình mới biết thế nào là bo bo, củ sắn hay bắp hột to cầy xấy dùng nuôi ngựa. Có thể cám ơn nhờ có đổi đời nên mới vỡ lẽ ra “ sáng mắt sáng lòng “ là sao. Cũng có thể cám ơn nhờ có thế này mới hiểu ra thế nào là đắng cay, nhục nhã.

Người say cứ xỉn suốt ngày. Bất kể giờ nào chỗ nhậu cũng tươm tướp khách. Tiền đâu ra lắm thế hay là nhậu quắc cần câu cho quên buồn, quên tủi. Người cà nhỏng cứ nghêu ngao hát lén lút lang tàng “ như có… trong thùng phuy đậy nắp “ để rồi một ngày bỗng dưng đẹp trời tay khu vực vớ được gởi đi lao động cải tạo mút mùa. Ai cũng tưng tửng, khùng khùng, gọi văn hoa thì là tam tam, còn gọi thẳng thừng là mát dây, đứt chến.

Tuổi trẻ bắng nhắng đua nhau ghi danh thi hoa hậu, duyên dáng hết tỉnh đến thành, lan ra cả nước rồi ngông nghênh làm luôn cái toàn cầu cho bảnh. Con đại gia, cán lớn thì đua nhau mở blog, họp fans, chát chót suốt ngày, đua nhau sắm hàng hiệu không đụng mác, đổi xe, đổi áo, đổi bạn và dám đổi cả vợ/chồng tới luôn. Một đêm ca nhạc, vũ trường đủ cho vài gia đình thiếu ăn sống lây lất cả tháng.

Loạng quạng anh an ninh, cảnh sát nào đến yêu cầu vặn bớt tần số “ vì đêm khuya mọi người cần nghỉ ngơi để hôm sau còn lao động “ là sinh chuyện. Tử tế thì lịch sự mời nhau đi chỗ khác chơi, hung hãn thì tặng nhau vài quả phật thủ. Có đưa nhau ra đồn thì chỗ người nhà, anh em xin nhận lỗi, bảo lãnh cháu về, hứa sẽ giáo dục, quan tâm.

Có muốn làm căng lôi ra tòa thì luôn có các luật sư tài ba viện lý lẽ cháu nó vốn tí ti tâm thần nên dễ nổi nóng và xong. Con bần cố mà thế có là đi tù mãi mãi không về, nhưng con cháu các ông dù có cầm gươm, cầm súng thì cũng được diễn là đồ chơi con trẻ chứ có phải vật giết người chính cống đâu cơ chứ.

saigon ổ chuột7

Phần 9

Những năm, những tháng sống vùi đầu nơi Xóm Cụt, tôi nghĩ mình mọc rong rêu ra đến nơi. Ngồi đâu buồn thiu buồn thồi ra đó, tay chân dài ngoẵng, móng mọc vêu vao, tưởng như mọc rễ chằng rễ đụp ăn sâu xuống lòng đất. Nhìn vào đâu cũng thấy có quầng có vệt, y như con mắt cũng bị ruỗng ra, chẳng khác khúc cây khô bị mọt đục. Tai luôn điếc đặc vì cái loa phóng thanh ở đầu ngõ luôn chĩa thẳng vào nhà mình.

Những điều không muốn nghe cứ phải lải nhải nghe, những điều không muốn thấy cứ phải mở căng mắt ra mà nhìn. Lòng cứ bã ra như mảnh chiếu rách người ta quẳng trôi sông lạc chợ. Không sáng nào, không chiều nào không phải nghe cái ông Phó Thủ Tướng họ Lê Thanh rang rảng khoe sự tự động của người dân hồ hỡi nhau đi xây dựng kinh tế mới. Thế mà vừa ra ngõ đã gặp lềnh khênh người nằm ngủ vạ vật khắp nơi.

Hỏi ra họ đều từ ở cái thiên đường đầy mật ngọt đó bỏ về và nói năng bất cần giứ ý giữ tứ. Họ than là chết đứ đừ rồi, còn cóc gì mà sợ nữa. Nhà cửa đã hiến, tin rằng lên tới đó chợ búa đã sẵn, trường lớp đã có, trạm xá y viện đã nhiều, nhưng có đi có biết, họ phượu ra chứ nào có gì, ngoài một mé rừng đầy cây bụi và lơ thơ dăm miếng tôn mục để ra đó. Muốn ở thì cha con, chồng vợ, con cháu tự mò mẫm chặt cây, ghép cột thành sườn, thành cột mà trú; còn không thì cứ nghêu ngao nằm ngửa mặt nhìn trời chờ sao rụng mà há mõm ra chực.

Trong những nỗi hận tràn lòng thì nỗi hận chính người lãnh đạo phe mình đánh lừa lê dân ở lại rồi các bố tếch biệt mới là đau hơn hoạn. Đó đây đã có những câu chửi rủa tục tằn để xả bớt nỗi oan khiên phải chịu vì bị bỏ rơi, thù còn hơn là thù kẻ thắng trận hay bạn đồng minh tệ bạc.

Tôi ví như con sâu đo bị người đời đặt chân di đi di lại đến ứa cả lòng ruột chất nhầy ra ngoài. Tôi như cành lá mục rơi trên bãi lầy còn bị thêm dòng nước đen ngòm khỏa lấp nát tan. Vậy mà xem ra người ta vẫn e dè, nghi ngại bọn tôi.

Ngoài cái anh khu vực lăm lăm lúc nào cũng dõi theo như mắt diều chực bắt gà con, năm thì mười họa vài người lại bá vơ nhận được cái giấy mời làm việc mà run cầy sấy trong lòng. Nghèo xác mồng tơi, người nào cũng phải cụ bị bao thuốc Vàm Cỏ để làm quà ra mắt, dù có người chẳng hề biết chất khói thuốc ngay từ ngày bé ra sao. Bởi rét với cái lý do lơ lửng như lưỡi dao chém treo ngành vắt vẻo trên đầu cột. Một dòng chữ ghi khô khan mà lạnh buốt hơn gươm : yêu cầu có mặt đúng giờ, lý do sẽ cho biết sau.

Trong những nỗi tai ương hồi hộp thì cái lối nói bắt bí này đáng sợ nhất. Có khi họ mời tới hỏi han lăng nhăng ba điều dăm chuyện rồi thả về, hẹn hò lâu lâu gặp lại. Có khi họ yêu cầu kể rõ thêm những chỗ mà hồi nào khai báo chưa gẫy gọn, phân minh. Có khi được mời lên mời xuống hết ngày này qua ngày nọ chỉ vì một lý do người khách nào đó đến anh nói chuyện gì.

Còn thân phận nào thê thảm hơn chăng. Bữa nay nghe tin mấy ông đi cải tạo về đang say sưa tới bến ngoài quán với nhau thì bị hốt sạch để hỏi xem nguồn tiền đâu ra mà nhậu lắm thế. Cuộc sống cá nhân bị những con mắt tọc mạch nhìn xuyên suốt đáng sợ. Mai lại nghe phường này phường nọ bắt đầu gom mấy tay tù mới tấp tễnh về để gửi vào trại lao động thêm vì vẫn chưa thông, còn lè phè chây lười lao động.

Tôi đã hơn vài lần thuộc vào trường hợp được mời trôi nổi như thế. Tôi lo bằng chết, vợ cứ phải mạnh miệng trấn an : không sao đâu, người ta muốn tìm hiểu xem anh làm ăn, sinh sống thế nào, có khi xem coi anh có bị địa phương chèn ép hay gặp khó khăn thì họ gỡ cho. Em nghe nhiều bà vợ ở vào các trường hợp như anh nói như thế.

Ôi cái xã hội mà ai cũng mù mờ hệt nhau tất cả, chỉ đồn loan các tin nghe ngóng được thế thôi, còn tuyệt nhiên chẳng hề ai dám nói là hiểu rành, biết rõ. Tôi có cẩn thận đến thăm dò tay trưởng khóm thì lão cũng ngớ ra. Thậm chí địa điểm gặp là công an phường mà khi đến đó cũng chả ai biết mô tê gì hết. Đưa tờ giấy mời thì họ dẫn vào một cái bàn rộng thênh thang, bảo ngồi ì ra đó đợi, sẽ có người trên thị hay tỉnh xuống gặp gỡ.

Xưa rày, chẳng có anh dân ngu khu đen nào mong được bạn dân từ tỉnh hay thị xuống hỏi han mình, cho dù bất kể thuộc chế độ, thời đại nào cũng vậy. Dường như người yếu thế kỵ với những sắc phục vốn luôn âu yếm đến dân, cứ nhìn cái dùi cui của họ và cái còng số 8, ai cũng muốn lỉnh đi cho được việc.

Ngược lại từ những ngày, những tháng sống với cuộc đổi thay, tôi cũng nhận ra được nhiều kỷ niệm hay ho. Lần đầu tiên đổi tiền tôi còn nằm trong rọ, sau này về nghe kể lại nhà nước vung tin là có bão lớn, cấm dân ra đường để chặn truyền tay nhau nhận đổi hộ tiền. Thế nhưng người dân biết hết, phần lớn chẳng ai còn nhiều tiền mà gửi, với những tay khôn ngoan thì họ còn cố giữ chi ba mảnh giấy lộn của một chế độ đã tàn. Họ đã cụ bị từ khuya bằng cách sắm vàng, kim cương hay lỉnh kỉnh trăm thứ giá trị khác, và họ gửi đâu, dấu đâu thì có trời biết, đất biết và họ biết với nhau mà thôi.

Kín như thời gian đi tù kéo dài bao lâu mà ngày hôm trước mới vào trại hôm sau đã nghe nhong nhóng bàn nhau. Các tay rành rọt phán : Liên Xô giam trên 10 năm, Trung Quốc 9 năm, còn ta thì ít là phải 3 năm mới tạm gọi là đủ. Tin truyền tai này rất nhanh được ban phát, trại lồng lộn lên mắng mỏ anh em : các anh tội ví trời tru đất diệt, cách mạng đã tha chết mà chẳng chịu học hành. Cứ bàn tán linh tinh, ai bảo các anh là tù binh mà tự buộc rịt tiếng ấy vào mình. Các anh là học viên rõ chưa, nhà nước tập trung cốt để các anh học hiểu thì về, chứ nào ai bắt tình bắt tội làm gì. Ấy vậy mà chỉ dăm tháng ngắn ngủi thì mọi người bị tập trung với tin đồn chuyển trại để rồi được xối cho một gáo nước đá giữa đêm đông, ai nấy mới hiểu ra : kể từ nay các anh chẳng là học viên gì cả, đích danh các anh là tù tàn binh nghe rõ hay chưa.

Thời gian tôi ở Xóm Cụt cũng thế. Những tin đồn tới tấp bay về, người nghe mừng rơn, người dửng dưng bịt tai, bịt miệng. Chẳng hạn cái tin Mỹ sẽ cấp cho những ai chịu ở lại quê nhà 5000MK làm sinh kế nuôi thân, hay cái tin sớm muộn gì thì chuyện “ mã quy “ cũng sẽ tới.

Dạo đó, tôi không tin với tin trước vì nghĩ dù Mỹ giàu mấy đi nữa, việc xuất 5000 cho mỗi đầu quân, dân, cán, chính của VNCH đâu phải nhỏ, có quốc hội nào chấp thuận nổi ngân sách đó chăng, huống chi là chưa ai nắm được rõ con số thực sự người bị kẹt lại độ bao nhiêu để mà thảo một dự án to lớn như thế.

Về tin sau thì đầu óc tôi mụ mị mất tiêu nên chẳng thắc mắc đoán nổi “ mã quy “ là gì, không dám xen xỏ có ý kiến vào. Sau dần dần họ kháo huỵch toẹt ra “ mã quy “ tức “ Mỹ qua “, ai cũng cười hề hề cho là các tay ngủ mơ vì có đâu Cộng, Quốc dễ hòa hợp tới vậy.

Sự đời nào ai đoán trước được diễn tiến, “ hồi nao thù hận đáy thiên giờ đây bầu bạn nhãn tiền mới hay “, Mỹ bỏ cấm vận, rồi lại bang giao, rồi bỏ thứ này thứ khác, chỉ có những ai ngây ngô tin nghĩa tình trước sau như một mới bé cái lầm.

Lại nảy tin đồn rùm beng, nhà nước sắp chấp thuận cho tù bị nhốt cải tạo ra đi, ai cũng cho là huyền hoặc. Thậm chí có người còn rêu rao nguồn tin ví như tin đài Catinat hồi mồ ma chế độ trước, bây giờ thay vào người ta gọi là tin đài hành lang sở ngoại vụ. Lẩm rẩm các tin đồn lại trở thành sự thực mới biết. Có nhiều người ở rải rác khắp các tỉnh được công an địa phương đến tận nhà buổi tối mời làm đơn để sớm ra đi vì có sự yêu cầu của phía Mỹ.

Ai nghe cũng bàng hoàng, người may mắn thì hí hửng, còn các “ con bà phước “ thì băn khoăn. Cái khoản lo dịch vụ để được xét đơn ra đi, tốn kém vì lếch thếch lôi thôi đi phỏng vấn, rồi lịch tiêm thuốc ngừa, bắt uống thuốc vì có bệnh và lòng nôn nao chờ đợi ra đi làm cho mắt gia đình nào cũng sâu hoắm và những đường nhăn trên trán càng sâu hơn.

Chỗ nào cũng có môi giới để khẻ tiền. Diễn tiến ở các văn phòng xuất nhập cảnh rất nhiêu khê, bạn có đến tìm hiểu thủ tục thì đều được nhã nhặn mời ra xem thông báo nơi tấm bảng đen đặt trước sở. Ở đó người ta chỉ thấy ghi một câu : văn phòng XNC được phép nhận hướng dẫn cách thức để hoàn tất hồ sơ ra đi. Cho nên có biết bao nhiêu người lòng muốn được thoát đi mà chỉ vì thiếu cái khoản phí lo liệu mà đành bỏ phí cơ hội.

Cả đến lúc hồ sơ đã được chấp thuận, phỏng vấn cũng đã qua mà khâu moi tiền vẫn chưa nhả. Điều lạ lẫm là lắm ông chờ lượt lấy chuyến bay ra đi, chỉ còn phải qua phần chụp ảnh phổi lần chót mà vì nôn nóng cũng cố chạy một hai chỉ vàng, nhờ bà hàng thuốc lá lẻ nào đó nói với bác sĩ khám để có một bản chụp quang tuyến X trắng sạch.

Tôi nghiệp làm sao và liệu ai may mắn ở bên ngoài đất nước có cảm, có thương, có cám cảnh cho những nỗi âu lo bất tận này chăng ? Dạo ấy, có những người chăm chăm dò la địa chỉ bạn bè, thân nhân, bà con ở nước ngoài để xin viện trợ chút tiền làm lộ phí mưu việc ra đi. Cũng có anh nhặt được ở đâu ra chỗ ở của một hội binh chủng ngày xưa để lâu lâu nhận được khoảng 50MK xem ra mình quá ư may mắn.

Chuyện ra đi cũng gây lắm chuyện khóc cười vô cùng. Một bà vợ vì thấy chồng mình xác xơ lỡ vận, quen ăn sung mặc sướng đã vội phụ tình đi lấy một tay cán cối bên kia. Bây giờ đùng cái “ người ấy “ sắp đi Mỹ, cái cô bá vơ là bà sau nghênh ngang sửa soạn đi theo cùng chồng, tủi thân hờn phận nên lén la lén lút cầu xin chồng tha thứ. Gieo gió phải gặt bão, người gây nhân phải hái quả, đành nuốt hận nên quay qua nài nỉ xin chồng cũ cho con cái đi theo.

Ngặt cái thuở nào hăm hở ra đi thì huỵch toẹt xóa hết tờ khai gia đình nên con cái từ lâu không còn sống chung với bố. Giờ có bổ khuyết thì cũng chẳng ai chấp nhận vì sự thực chứng tỏ là các đứa con đâu cần sự chăm nom của bố từ lâu rồi.

Ôi, cái thời thế sao mà nhộn nhạo, xáo trộn lung tung lên hết vậy nhỉ ?

saigon ổ chuột4

Phần 10

Hôm ông thương binh về hưu được mời lên phường đột ngột, ra về, ông chạy hấp tấp đến vấp lên vấp xuống mấy lượt. Nắng chấp chới tận trên đầu ngọn cây, chẳng chiều thẳng vào người mà cũng làm ông chóa mắt. Ông không nhận ra sự vui, sự buồn, nhưng dù sao nguồn tin vẫn làm ông có một chút hả dạ.

Ừ, ít cũng phải là như thế. Dù có đem lại cho ông một nỗi đau lòng thì thà dứt giạt một đằng. Ít gì cũng hàng chục năm trời rồi, u u minh minh chẳng ra làm sao sất. Chết thì bảo là chết, sống thì nói là sống, chứ còn lơ lửng mất tích là sao. Chẳng lẽ phải cần một điều gì đó làm bằng cớ thì tình trạng hiện diện hay không hiện diện của một con người mới được xác định.

Hơn hai mươi năm đánh nhau đã có bao nhiêu phần trăm con người chết hay sống được xác định rõ rệt . Những trận ném bom không dứt ở giữa rừng, con người chạy tứ tán đi hết cả. Máy bay tếch đi rồi, mãi mới lục tục kéo nhau ra, ai bò về được thì kể như còn sống, nhưng ai vắng mặt thì sao.

Giao liên chẳng từng thập thò kể lại với nhau gặp bọn người rừng ngơ ngác, biết đâu đó chẳng là bạn đồng đội bị hơi bom xé rách màng tai đến thành hóa điên, ngộ dại, chẳng tự nhận ra mình là vượn, hay người. Có người còn kể thêm gặp cả người rừng nữ mọc đầy lông lá trên thân, âu là họ có phịa ra thêm chăng nữa, nhưng quả thật chiến tranh đã nuốt vô tội vạ lắm mạng người.

Bây giờ thì phường đã có tin về đứa con của ông được ghi là mất tích. Họ bảo nhờ phái đoàn đi tìm xác của phía Mỹ tình cờ phát giác ra được. Ở tít mù tắp nơi một buôn mãi giữa rừng già tận vùng Plei Ia Drang, thổ dân đã chỉ dẫn để nhóm tìm kiếm đào được một ngôi mồ, nhặt nhạnh chỉ còn mớ xương và quyển sổ tay ghi tên người chết.

Ông thương binh nôn náo đòi xin phường giao lại quyển sổ của người con ông, nhưng ban thương binh xã hội cũng chịu mù tịt vì nào có được ai trao món kỷ vật đó đâu mà đưa lại.

Hai anh em tôi ngồi nhấm nháp ly cà phê lõng bõng màu xác trà pha loãng thì nhìn thấy ông nhớn nhác chạy qua. Anh em chưa kịp hỏi, ông đã ríu rít khoe : tôi có tin thằng cháu thất lạc rồi các cụ ạ. Lúc đầu chúng tôi cho là ông đang bộc bạch với bạn bè nào, nhưng nhìn quanh buổi trưa vắng ngắt làm gì có ai khác, mới biết là ông quá vui nên gặp ai cũng nói để chia xẻ.

Đột nhiên, cả hai đều thấy ly cà phê uống giở đắng ngòm. Tôi đưa cái ly lên cao khỏi tầm mắt và nheo nheo mắt nhìn như tìm một lớp bã cặn nào trong đó. Anh thợ sửa xe chặn ngang : ông thầy tìm gì trong đó, thời buổi này cái gì lại chả có cặn. Huống chi hàng quán độc quyền, muốn mua phải trầy vi tróc vảy và chấp nhận hạn chế mới được.

Mà thực vậy, bao lần anh lãnh trách nhiệm đi mua cà phê ở cửa hàng giải khát quốc doanh nơi chợ cạnh đó quả thật lâu lắc, tôi tưởng ngủ gục đến nơi. Thấy bóng anh bưng bợ hai cái ly sóng sánh chất nâu non, mặt nhăn như cái bị rách, tôi tò mò muốn hỏi thì anh đã văng sự bực mình : mấy mụ phục vụ eo xèo làm khó, chỉ thuận bán mỗi phần một cốc. Em nài nỉ khô cả cổ, nói mua thêm cho ông thầy vì chân yếu, các chị cũng lơ tuốt. May sao có một chị nói hộ vào vì không muốn em mè nheo cắt đứt chuyện tán gẫu của họ, mới được bán thêm cốc nữa, lại dặn dò phải đem trả ly, nếu không bận sau cạch mặt không bán.

Tôi nói với anh : thời buổi này là thời buổi của những người kênh kiệu. Các mợ nghĩ là có uy quyền nên giở thái độ gia ơn, thôi thì cố mà nhịn, chú. Cãi với họ chỉ thiệt. Anh thợ vẫn chưa nguôi còn cố cà khịa : ông thầy nghĩ xem em nhắp thử thấy đắng nghét, xin thêm xí đường, các chị nghĩ là em sắp đụng vào của cải riêng nhà họ nên nhấm nhẳng nói tạt vào mặt em “ ở đây chỉ có thế, muốn ngọt thì tìm chỗ khác mà mua “. Em ức muốn nổ cổ.

Tôi can gián anh, bởi vì nếu chấp nhất thì mình ấm ức, bực bội, giận dỗi suốt đời. Những ly cà phê loãng như nước ốc, như nước điếu thải ra, vậy mà cũng đẩy trôi được cái nóng trưa hè hừng hực nơi cổ họng. Tàng cây phượng rưng rưng như giọt máu, vẩy vung vít từng sắc nóng khắp nơi, con chó già rung lông và ghẻ đầy nằm thè lưỡi dưới chân cái trụ điện thở hồng hộc không dứt.

Hai anh em bàn tán với nhau, hẹn chiều về cùng ghé thăm vợ chồng ông thương binh xem sự thể tin tức con ông ta thế nào. Tôi có vẻ e ngại, anh thợ sửa xe cố làm cho tôi mạnh dạn lên : ông thầy tập xem mọi việc như pha, mình có đến xin gì đâu mà né, hàng xóm láng giềng lẽ đâu nhà ai có chuyện mình lại làm lơ coi không tiện. Vả chăng cô cũng qua lại với bà vợ ông ta, em xem sự thể ông ấy cũng không phân biệt hay định kiến gì đâu, ông thầy.

Ôi những buổi trưa ngồi bó giò bó cẳng, mắt thẫn thờ mong ngày tháng trôi mau. Những buổi trưa càng nóng càng làm mềm đi chí khí, càng vắt kiệt tâm hao. Lại thêm thời buổi việc gì cũng hiếm khó, nghĩ lại giống như khắp người bị buộc bằng những sợi tơ nhện giăng đầy.

Càng ngày người ngỗng càng bu vào quanh các con đường dẫn vào chợ để chia chác nhau một công việc kiếm sống. Lác đác, có thêm một ông thợ bơm mực bút bi vừa ra tiệm mới toanh. Nhìn cái lối ngồi vẹo đầu vẹo cổ, nước da tái sạm đen dỉu, không hỏi ra cũng biết ngay cùng một lũ thất thời phe ta chẳng ai cho làm gì khác hơn nữa.

Thấy ông bạn chăm chăm chút chút, không buồn hỏi han ai, mới hiểu thật không còn hạng người nào dốc lòng, dốc sức và nhẫn nhục hơn người của mình đã từng trải qua một thời đi tù. Nỗi nhẫn nhục biểu lộ bằng sự thu gom, nhặt nhạnh từng hào bạc và lóe sắc mừng khi vớ được cây bút hiệu BIC ngày xưa.

Ông ta sẽ loay hoay tháo hòn bi tí xíu, cất ngay vào cái hộp nhựa để chỉ thay cho ai chịu trả tiền hời, vì chắc chắn viên bi sẽ chặn không cho mực bơm phùn ra từ đầu ngòi làm ướt đẵm cả ngực áo khách. Thời gian đó, nhiều người phải dở khóc dở cười vì có bút dù chẳng đụng đến mà mực cứ tự động trào ra ở cả đầu hay đuôi trông đến lạ.

Sau này lại có thêm một chỗ xay xát gạo. Ai muốn chà gạo mà lấy cám thì trả tiền công xay, còn ai bằng lòng nhượng phần cám cho chủ máy sẽ không phải trả tiền. Thực ra, đây cũng là một việc công bằng sòng phẳng vì nhà nào cũng cố nuôi thêm con gà, con lợn, gọi là tham gia phong trào chăn nuôi với phường khóm và cũng chứng thực mình thuộc gia đình lao động thực sự, hay gia đình văn hóa mới.

Tiếng máy chạy xình xịch suốt ngày làm bưng tai những người chung quanh đó và đồng thời cũng gây những cơn ngủ gà ngủ gật đến hai anh em tôi. Anh thợ sửa xe lâu lâu pha trò : điệu này mà được lăn quay ra đánh một giấc chắc là vui, ông thầy nhỉ. Tôi gãi đầu gãi tai vì chợt nghe rôm sảy cắn rần rần.

Ôi thời gian bình dị hồi nao sao giờ như một xa xỉ khó còn mơ ước với tới được.

saigon ổ chuột2

(Còn tiếp)

Đỗ Thành

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.