BÀI CHÒI(5)

Bài Chòi (kỳ5)

bài chòi5

Nguyễn Lệ Uyên

B. SÂN KHẤU BÀI CHÒI

Cách giải trí sinh hoạt đơn điệu của bài chòi ban đầu chỉ có thể giữ một vai trò nhất định trong một thời gian nhất định. Đã đành, ảnh hưởng của nó đối với quần chúng là rất lớn, không thể phủ nhận. Song muốn tồn tại, không bị quần chúng quay lưng khước từ thì buộc nó phải tìm cách thay đổi, cách tân mà trước hết là vì nhu cầu thẩm mỹ của quần chúng. Với chiều hướng này, đồng thời với sự phát triển của xã hội, bắt buộc bài chòi cũng phải thay đổi theo cả hình thức lẫn nội dung. Chính điều này đã buộc các nghệ nhân phải tập hợp lại thành từng nhóm, lập bầu gánh riêng để lưu diễn. Cũng có đào kép, có tuồng tích, bài bản hơn trước, thay vì chỉ một vài người hô hát theo kiểu “tài tử”. Có sự tập hợp riêng lẻ thế tất phải có sự phân ly cạnh tranh về mặt giá trị nghệ thuật cao hơn để từ đó tự bản thân các nhóm có sự sáng tạo trong cung cách diễn xuất. Nói chung là ở cả hai mặt: nội dung lẫn hình thức. Từ chỗ chỉ có một người hô, nhiều người ngồi nghe thì nay có ba bốn người hô, tùy theo nhân vật trong tuồng tích, vở diễn. Nội dung bắt đầu có mâu thuẫn, có thiện có ác, có luân hồi quả báo v.v… Vì thế tự thân bài chòi buộc phải đưa nhân vật vào kịch bản, có chương, có hồi với những tình tiết được đưa vào gay cấn hơn, éo le hơn, có bi có hài, có nhân vật chính diện và phản diện.

bài chòi

Ban sơ, các ban gánh bài chòi này phần lớn đều dựa nào các tuồng tích sẵn có như Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương, Thạch Sanh Lý Thông, Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê… hoặc mô phỏng các điển tích, chuyện kể dân gian để “xây dựng kịch bản” bài chòi. Sân khấu ca kịch bài chòi bắt nguồn từ đó. Vì như ông Phan Ngạn đã nói: “Một sân khấu ra đời bao giờ cũng có làn điệu chính thống để đủ sức đảm đương bước đầu. Một làn điệu dân ca nào cũng bắt nguồn từ cuộc sống. Việc vay mượn, dung nạp, chịu ảnh hưởng các loại hình đi trước là đúng. Vì không có một sân khấu truyền thống nào ra đời là không chịu sự chi phối của tổng thể folklore” (Phan Ngạn, Sdd).

Những tác động khách quan để dẫn đến hậu quả tốt xấu luôn là sự vận động tích cực của xã hội. Vì vậy bài chòi, như đã nói, ngoài nhu cầu của quần chúng, nó còn chịu một sức ép lớn của các loại hình khác cùng song song tồn tại với nó. Nhưng hơn hết vẫn là từ các nghệ nhân. Họ không còn nghĩ đơn thuần là giải trí, là đem chút tài nghệ để mua vui cho mọi người sau những ngày lao động nặng nhọc, mà có thể dựa vào nó, biến nó thành cuộc mưu sinh. Tại sao không? Vậy là sân khấu bài chòi được hình thành dựa trên cơ sở từ những “sân khấu nhỏ” ở các sân hô hát bài chòi. Họ lập thành từng gánh, từng nhóm có tính chuyên nghiệp hóa để đi hát rong, như gánh ông bầu Sửu ở thôn An Ninh Tây, Phú Yên đã lưu diễn khắp nơi, trên mấy chục năm (và mới giải nghệ khoảng hơn 10 năm nay do không còn “ăn khách”).

Về nguồn gốc của sân khấu bài chòi thì nhà văn Võ Phiến đã chỉ ra: “Nguyễn Văn Xuân cho biết đã có lần anh nghĩ nó chính là bộ môn dẫn khởi cho cải lương sau này…còn ông Hồ Hữu Tường đi tìm nguồn gốc cải lương, cho rằng nghệ thuật này cũng ra đời vào độ ấy, không muộn hơn bài chòi. Và cải lương bắt nguồn từ “gà ba món”: Lưu thủy đoản, Bình bán vắn, Kim tiền Huế, những điệu ca không đủ căn cứ trên thể thơ lục bát như bài chòi. Vả lại người trong Nam đã biến cải bài chòi ra cải lương thì thế nào trước nhất họ cũng phải thông thạo bài chòi; đằng này hình như bài chòi không hề vào tới miền Nam, nó chỉ được phổ biến trong các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Nam Ngãi” (Võ Phiến, Sđd).

Như vậy, xét về nguồn gốc thì bài chòi vẫn độc lập so với các loại dân ca khác. Nhưng kể từ khi bị đẩy lên sân khấu thì chính lúc ấy bài chòi mới bị tác động khá nặng nề của cải lương và hát bộ. Nghe, đọc lại tất cả các vở diễn của các đoàn ca kịch bài chòi Khu 5 và các đoàn văn công địa phương thì dung lượng dành cho hai thể loại kia chiếm phần khá lớn. Đôi khi bài chòi chỉ còn như chiếc bóng bên cạnh hai ông anh khá bề thế kia. Nó không mới hơn, không cách tân từ chính nó. “Nó vẫn quê mùa, nếu có pha phách thì nó pha nam, pha khách các điệu hát bộ cổ truyền. Do đó, ngày nay chúng ta có thể nghiên cứu các tuồng bài chòi như một hình thức văn học dân gian. Chúng ta sẽ không biết đến tên tuổi của một soạn giả tuồng bài chòi nào, cũng có thể sẽ không tìm được bổn tuồng bài chòi nào đạt đến giá trị nghệ thuật cao. Nhưng chắc chắn những sáng tác ấy giúp chúng ta hiểu thêm về lời ăn tiếng nói của dân gian, về cách nhìn đời của họ, về hoàn cảnh sinh sống và quan niệm sống của họ v.v…” (Võ Phiến Sdd).

Đó là ông nói về tuồng bài chòi cổ cách đây chí ít cũng hơn nửa thế kỷ, chứ còn sau này tự nó phải “lột da” để tồn tại. Còn lột da như thế nào, tồn tại như thế nào lại là vấn đề khác. Nhưng để được đưa lên sân khấu thì chắc chắn phải có những bậc trí giả am tường về nghệ thuật sân khấu với nhiều công việc nhiêu khê khác trong chuyên môn xin được không đề cập ở đây.

bài chòi Bình Định

Từ tự phát lập bầu gánh để cuối cùng đưa nó lên “sân khấu lớn”, hiện đại hơn, và có tổ chức là cả quá trình dài dằng dặc, mà thời kỳ phát triển rực rỡ nhất là trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Cùng các loại hình sân khấu biểu diễn khác, sân khấu bài chòi trở nên khá quan trọng, vì khả năng tác động, thông tin, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân. Những năm chiến tranh ác liệt, tại các vùng “giải phóng” không hề có đài điện như bây giờ, cũng không có sách báo nhiều. Tất cả đều phải trông chờ thông tin địch ta từ chiếc “ống a lô” của người giao liên:

 

tim-hieu-bai-choi-quang-nam

Tất nhiên là “ống a lô” thay vì thông tin những con số thiệt hại của” địch,  ta (!!)đến cho nhân dân một cách bình thường thì lại nghĩ ra cách thông tin bằng hô bài chòi để gây chú ý.

Chính từ những khả năng ấy, nên bài chòi được sử dụng như là một công cụ đắc lực, để từ đó các đoàn ca kịch bài chòi ra đời. Bắt đầu là đoàn dân ca Liên khu năm, rồi sau này là đoàn của NSND Lệ Thi cùng nhiều đoàn khác ở các tỉnh.

Có thể dẫn ra đây nhiều vở ca kịch bài chòi của Lệ Thi, Kính Dân, Phan Ngạn, Trương Đình Quang… cùng hàng ngàn vở sáng tác nhanh để cổ vũ, động viên mọi lực lượng…

Và tất cả, hầu như đều có một nét chung là dựa trên cơ sở của kịch nói, hát bội và cải lương cùng với nhiều loại hình sân khấu khác để phát triển. Chính vì điều này, nên trong vở diễn, lúc thì nghe nói lối, lúc thì xàng xê, cổ bản, khi thì xuống câu vọng cổ, rồi lại hát nam, hát khách, hò quảng. Sân khấu ca kịch bài chòi giống như một “lẩu thập cẩm”. Rất hiếm vở giữ được nguyên gốc, pha tạp, dung nạp vừa phải. Cũng có vở đưa thêm các điệu lý, điệu hò. Tính cách biểu diễn thì như hát bộ và cải lương. Sự pha tạp này, có nhiều ý kiến cho rằng đó là một thứ hổ lốn của sân khấu bài chòi, vì không thể hiện được đặc trưng vốn có của nó, để sau đó kết luận rằng: “Bài chòi muôn thuở vẫn là bài chòi. Nó chỉ có thể hát hô vui chơi trong phạm vi hẹp, chứ tự thân không thể đảm đương nổi vai trò trên sân khấu lớn[1]. Ý kiến khác thì lại khẳng định: “Sân khấu ca kịch bài chòi đã đành là có sự vay mượn, nhưng đó lại là sự vay mượn cần thiết. Điều căn cốt là nó vẫn giữ được cái cốt lõi của bài chòi. Ai dám bảo rằng điện ảnh, kịch nói, hát bội, cải lương là thuần khiết, không hề vay mượn? Có điều vay mượn như thế nào để không đánh mất bản sắc riêng của mình, không bị trộn lẫn, chìm lún đi mất mà thôi” (La Nhiên Sđd).

bài chòi3

Ngày nay, tuy hiếm khi được ngồi trong rạp hát hay ngoài trời để nghe diễn hát bộ và cải lương, nhưng thỉnh thoảng trên các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn có gắng đưa đến quần chúng một vài vở hát bộ, cải lương. Nhưng riêng bài chòi thì không. Nó lặng lẽ rút sau hậu trường, coi như mọi cố gắng cách tân thay đổi là hơi sức cuối cùng của nó. Bởi một hệ quả vô cùng quan trọng là có người hát, người diễn thì phải có người nghe, người coi, nhưng một khi người nghe, người coi quay lưng lại, không còn mặn mòi kiểu “Trồng trầu mà lộn với tiêu. Con mê hát bội mẹ liều con hư” thì thế tất phải tan đàn rã đám. Đó là số phận hẩm hiu, không riêng cho sân khấu bài chòi, mà cải lương cũng đang hồi báo động.

Bài chòi, từ hô hát rồi nâng lên thành tuồng cổ là cả một quá trình tìm tòi, sáng tạo của người bình dân. Chắc chắn, cha ông chúng ta sẽ rất hài lòng với những gì mà họ để lại, để ngày nay chúng ta gọi là di sản văn hóa quý giá, bởi nó là một trong những thú vui giải trí rất tao nhã của người bình dân nông thôn thời bấy giờ: giàu chất ngẫu hứng và lãng mạn. Tất cả đều không cần phải viết ra giấy và khổ công luyện tập. Nghĩ sao nói vậy, thấy gì nói đấy, rất trung thực, không hề thêm bớt. Đơn giản và mộc mạc và chơn chất. Nhưng tận cùng chiều sâu thẳm của nó lại ẩn chứa cả một tâm hồn Việt Nam. Đó là những cánh diều bay bổng tận trời cao, là những cánh đồng lúa xanh rờn chao nghiêng cánh cò trắng, là những dòng sông uốn lượn như giải lụa bạc… Vậy nhưng, khi cất công cải tiến nó, lau chùi, đánh bóng nó rồi nâng lên thành sân khấu hiện đại thì nó trở nên bơ vơ lạc lõng, giống như cô thôn nữ xinh xắn, đôn hậu bắt phải mang hài son, áo gấm suốt ngày phải ngồi trên gác tía để tưởng nhớ về những gốc ra, mùi khói đốt đồng thơm lựng.

104_3264Đốt đồng Phú Yên(ảnh Tư Chơi chụp)

104_3265

Những lỏng lẻo trong sự kết hợp không hài hòa ấy thế tất phải dẫn đến một kết cục “bi thương” để đôi lúc những người trong cuộc tự tra vấn như Shakespeare: “To Be or not to Be?”.

Trong bài khảo luận “nguồn gốc và tương quan giữa bài chòi, hát bội và cải lương” để trả lời một vài luận điểm của ông Võ Phiến, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường đưa ra kết luận: “Không có ngạc nhiên cho lắm khi phải theo thời. Chỉ thật là mệt. Mệt pha chút thỏa mãn của người nhà nghề kiếm cơm đuổi theo cảm quan thời thượng của quần chúng. Mệt lẫn chút thất vọng cho người dõi theo đường tiến của bài chòi bắt gặp một hôm đóng tuồng, đứng nhìn một chút, quay ra, có cảm tưởng như vừa thấy trình diễn một ban cải lương nhỏ, một ban cải lương vườn”.


[1](1) Mạnh Hà, Tham luận tại cuộc hội thảo KH về bài chòi tại Nha Trang, 10.1991.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.