Bài Chòi (4)

Nguyễn Lệ Uyên

(xunau.vn)

bài chòi Bình Định

Từ hô bài chòi với duy nhất một người hô, có nhiều người ngồi nghe, đã tiến dần đến có nhiều người hô theo lớp lang, tuồng tích cho đối tượng là khán giả vùng nông thôn sau một ngày lao động, ngày mùa hoặc ngày tết. Về điểm này, từ một câu bài chòi với một người hô chuyển sang câu bài chòi có hai nhân vật đối thoại. Tính mâu thuẫn trong những bài ca như vậy tuy chưa cao, chưa rõ nét, nhưng dáng dấp tiền kịch của bài chòi bắt đầu hình thành, là tiền đề cho sân khấu ca kịch bài chòi mang tính hiện đại sau này.

Nam:

Này hỡi cô! Đi đâu tăm tối một mình

Lại đây ta hỏi nữ trinh thế nào

Ưng ta ta sẽ bước vào

Phượng loan chấp cánh hòa giao ân tình

Nữ:

Nghe lời chú nói thất kinh

Bông sen tàn ai đi cắm lục bình bát xưa

Cóc mà mang guốc ai ưa

Đỉa đeo chân hạc sao vừa mà mong

Chú ơi! Đừng tưởng (với) đừng hòng

Ta đây có xấu cũng giòng phượng gia

Vô duyên (ta) ở vậy tới già

Tội gì ưng chú cho thiên hạ (mà) cười chê.

Ông Tạ Chí Đại Trường có một nhận xét hết sức độc đáo trong nghệ thuật hô bài chòi là “…các nhân vật bài chòi tuy vẫn ép mình trong khuôn khổ, nhưng tình cảm có chiều hướng vượt ra, hành động không che giấu được tính phóng khoáng, ý muốn ruồng bỏ mọi ràng buộc” (TCĐT – SĐd).

Ra về nghĩ tới khóc than

Không ai thay mặt để nuôi chàng một khi

Châu Long nghe nói vân vi

Lạy xin phu tướng cho (em) đi nuôi chàng

Cúi đầu em lạy phu lang

Đem vàng tới đó nuôi chàng hiển vinh

Hoặc:

Em không hỏi lân hỏi lý

Em chỉ hỏi chị vợ nhà

Vợ anh đồng huyện hay người ở xa?

Hỏi thêm chuyện nữa: Vợ anh đà mấy mươi?

Vợ anh hay nói hay hay cười?

Hay là buồn bực trong người xốn xang?

Nói thêm sợ mắc lòng chàng

Vợ anh lúc trước giàu sang nghèo hèn?

Vợ anh có cưới có cheo

Hay là nẫu thấy anh nghèo nẫu cho?

Vợ anh nhi nữ học trò

Hay là ở mướn chận bò bắt cua?

(…)

Ngày xưa, ở vùng nông thôn nam Trung bộ, hầu hết đều hình thành những sân hò như các sân hò ở Phù Cát, An Nhơn (Bình Định), vùng đồng bằng hạ lưu sông Ba, sông Bàn Thạch (Phú Yên). Và cùng tồn tại song song với các sân hò này là các sân hô bài chòi. Sân hò gần gũi với thơ ca, phong dao huê tình. Trong khi các sân hô bài chòi thì lại gần gũi với đời sống thường ngày hơn. Nó có khả năng phản ánh, thông tin kịp thời mọi diễn biến xã hội vừa xảy ra, nên chức năng thông tin của bài chòi được xem là cao hơn nhiều. Ví dụ chuyện cô bốn Lành xinh đẹp, góa chồng năm hai mươi ba tuổi, ở vậy nuôi con trai duy nhất tới năm ba mươi mà không chịu tái giá. Nhiều nơi giàu có danh tiếng, nhiều ông xã, ông huyện lén lút vợ con đang đêm “vi hành” tới tỏ tình với cô bốn Lành, nhưng thảy đều bị khước từ. Có một vị “phụ mẫu chi dân” tuổi ngoài ngũ tuần, nổi tiếng thanh liêm, chính trực, nửa đêm hứng tình “vi hành” tới nhà cô bốn. chuyện bị bại lộ. Mấy hôm sau tại sân hô bài chòi, tức thì có một bài bóng gió:

Ở dưới tôi lên tôi cũng gặp chị

Ở trên tôi xuống tôi cũng gặp chị

Người ta đồn mộng đồn mị

Đồn tôi với chị là hai vợ chồng

Từ xưa rày xa cách lông bông

Bây giờ hỏi thiệt trong lòng chị ra sao?

Một lẽ chị ưng “thằng” nào

Mai sau nó chết, ở làm sao cho vẹn toàn

Hai lẽ chị bạc phận hồng nhan

Ba lẽ chị ở vậy nó xốn xang trong mình

Bốn lẽ chị ở vậy xùng xình

Kẻ ve người ghẹo, cực mình ai nuôi

Chi cho bằng chị lại ưng tui

Ngày giỗ ngày quải, có lính lệ đèn hương cho chồng

Nói giữa rày có chứng đám đông

Hai bên cô bác có đờn ông đờn bà

Hẹn ngày 16 tui cho vợ tui qua

Khay trầu chén rượu để mẹ cha biết chừng

Không ưng cứ nói không ưng

Để tui liệu nước tìm đường lại qua

Chuyện bách niên giai lão kết tóc tới già

Chi đừng trặc trẹo vậy mà không nên

Xứng đào xứng kép lại đẹp hai bên

Cũng là bà lớn cũng nên bà hoàng

Cớ sao cứ cam chịu cái phận xềnh xàng

Nữa khi già, thác xuống lỗ mối nó màng làm chi?

Bây giờ chị cứ nghĩ đi

Chút nữa trăng lặn, tui thì phải về dinh

Chưa nói đến nghệ thuật, đến độ rung cảm của quần chúng để nhích tới gần đồng cảm, thì hô hát bài chòi có sức cuốn hút người nghe hơn nhiều. Bởi nó có khả năng đề cập tới tất cả mọi vấn đề, mọi ngóc ngách của cuộc sống. Có thể bày tỏ tình cảm trai gái, ve vãn, phê phán những thói hư tật xấu, nói chuyện thời tiết mùa màng, chuyện chính sự phụ sự. Bài chòi còn cả gan  sờ tận gáy các quan phụ mẫu… Nghĩa là không tha bất kỳ việc gì. Trong khi đó, tại các sân hò chỉ thấy một kiểu thức huê tình, phong tình mà thôi.

Với những yếu tố như vừa nêu, chúng ta có thể tạm khẳng định rằng: thời xưa bài chòi đã ăn sâu vào tận gốc rễ, tạo thành sinh hoạt văn hóa thường xuyên của quần chúng nông thôn, cũng ví như ngày nay, cải lương, ca tài tử đã thấm sâu vào tâm thức của người dân Nam Bộ vậy.

Xin dẫn ra đây một đoạn Tam Hạ Nam Đàn mà hầu như ở sân bài chòi nào khán giả cũng đều được nghe biết:

Lưu Kim Đính: (nói lối) Sông Tả sang ký tích, Lưu Kim Đính ngã danh. Niên kỷ vừa đôi tám xuân xanh. Kinh luân đủ lục thao tam lược. Thuở trước thầy ta đã dặn:

(Hô bài chòi theo điệu cổ bản)

Thầy ta Thánh mẫu Lê San

Thầy cho đồ đệ nguồn can thăm nhà

Mấy lời sư trưởng dặn ta

Sông Tả sang tới đó tạc ra chiêu phu bài

Trước thời gặp lại trúc mai

Sau thời giải giá cứu ngài Triệu vương

Bài phu tạc để một trương

Giả đò kén khách qua đường mới xong

Phải duyên ta bắt làm chồng

Vái cùng Nguyệt lão tơ hồng xe dây

Cao Xuân Bảo: (Hô theo điệu xuân nữ)

Tống trào Cao Quân Bảo tài lành

Nghe cha bị bắt chân thành trốn đi

Thọ châu giải giá một khi

Giải vây Đường quốc phen nì mới an

Lên yên giục ngựa băng ngàn

Quan san cách trở giữa đàng gặp mưa

Cái duyên ngưng thủy trời đưa

Ba sinh tiền định vầy ưa duyên tình

Ai xuôi gặp gỡ thình lình

Khiến Lưu Kim Đính đem tình nhớ thương

Chiêu phu bài để giữa đường

Kén trai hào kiệt nam thanh đua tài

Cao Quân Bảo đánh phá chiêu phu bài

Sá chi thục nữ đua tài nam nhi

Chữ rằng: nữ tử vu quy

Làm thân con gái vội chi kén chồng

Ta đây tức giận trong lòng

Phá tan bảng gái kén chồng coi chơi.

Lưu Kim Đính (nói lối): chặn tướng phá bài phu. Thiếp quân lai vấn tội. Người đi đâu phòng vội. Đứng lại thiếp hỏi han.

(Hô xàng xê)

Cả kêu bớ gã đi đàng

Tài tình chi đó dám phá tan bảng này?

Người đâu xiêu lạc tới đây

Cha mẹ khá tỏ, tên họ rày khá phân

(…)

Xin mở thêm dấu ngoặc là: Kể từ khi bài chòi và hát bộ song hành thì tất cả những đoạn khúc trong các tuồng hát bộ đều được các nghệ nhân hô hát bài chòi sử sụng bằng cách biến tác, cách điệu để phù hợp với đặc trưng, phong cách, phong điệu của bài chòi mà sử dụng. Và đây cũng là yêu cầu từ phía quần chúng. Vậy cho nên đôi khi, chúng ta đang nghe một điệu bài chòi chính gốc, thì liền sau đó họ lại chuyển thể, hát khách, hát nam y như là đang hát bộ.

Ví dụ một đoạn trích trong vở “Diễn Võ Đình” của Đào Tấn. Đoạn trên và đoạn dưới đang hô theo điệu bài chòi, nhưng ở đoạn giữa thì lại hát nam theo lối hát của tuồng hát bộ.

Sau đây là đoạn Khánh Sanh đã đánh bại Bàng Hồng, thoát vòng vây, trên đường lánh nạn nơi đất khách quê người. Một mình Khánh Sanh trên lưng ngựa thì nghệ nhân lại chuyển sang hát khách:

Trời chiều thu ảm đạm

Đất lạ khách bơ vơ

Chinh chiến mấy ai về?

Ra trận dẫu say xin chớ trách

Quê hương đâu đó tá?

Trên sông khói sóng giục cơn sầu…

Rồi bỗng dưng đột ngột chuyển sang hô bài chòi:

Chút thân liều gửi cung dâu

Đố con lương mã biết đâu là nhà?

(Đào Tấn – trích tuồng Diễn Võ Đình)

Sự pha tạp này, theo các nhà nghiên cứu bài chòi lý giải, thì đều cho đó là một sự dung nạp tự nhiên, làm phong phú thêm các điệu thức trong một bài hát hô, như ngày nay chúng ta vẫn thường nghe thấy trên sân khấu cải lương đang hát vọng cổ bỗng dưng nhảy qua tân nhạc, hò quảng, lý… Chính điều này, cứ càng về sau bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bộ và cải lương ở một vài điểm, mà các nhà bài chòi học cho đó là: “sự tách dần ra khỏi nguyên gốc nhằm tăng thêm sức hấp dẫn đối với người nghe, tránh được sự nhàm chán với độc nhất một vài điệu hô” (La Nhiên – SSĐd). Rồi sau đó ông lại thêm: “Đây là sự cách tân cần thiết”.

Tại cuộc hội thảo khoa học: “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền Trung”, tổ chức tại Nha Trang tháng 10 – 1991, có ý kiến cho rằng: cái gốc của các làn điệu cổ bản, xuân nữ, sàng xê… đang sử dụng trong hát bộ và cải lương đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra. Hư thực thế nào, vấn đề còn đang tranh luận. Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau là các điệu thức trong hô hát bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bộ và cải lương.

Dẫu cho ảnh hưởng, tác động qua lại như thế nào, thì hát hô bài chòi cũng đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong tâm trí người bình dân nông thôn suốt một thời kỳ khá dài, trên một vùng văn hóa rộng lớn. Những câu hô bài chòi không chỉ thu hẹp ở một địa phương mà còn lan rộng ra cả vùng nam Trung bộ. Ví dụ như câu mà chúng tôi dẫn ra ở chương trước: “Này cô ơi! Đi đâu tăm tối một mình… Tội gì ưng chú cho thiên hạ mà cười chê” thì ở Nam Ngãi, Bình Định hay Phú Yên, những ai từng mê say bài chòi cũng đều thuộc, đều nhớ. Khả năng lan tỏa của những câu hát hô như vậy là yếu tính của dân ca nói chung. Cũng ví như bài ca tài tử Dạ cổ hoài lang của cố nghệ sĩ Cao Văn Lầu thì cả vùng sông nước mênh mông Nam Bộ không ai là không biết đến:

Từ phu tướng
Báu kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin chàng
Thêm đau gan vàng

Trông tin chàng
Gan vàng thêm đau!

Chàng dù say ong bướm
Xin đừng phụ nghĩa tào khang
Ðêm ngóng trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng luống trông tin chàng
Năm canh mơ màng
Chàng hỡi! Chàng có hay?
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Bao thuở đó đây sum vầy
Duyên sắc cầm tình thương

Nguyện cho chàng
Đặng chữ bình an
Trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi.

Một chức năng khác của bài chòi không thể phủ nhận: đó là chức năng thông tin. Quan hệ giữa bài chòi và xã hội là quan hệ hổ tương qua lại, là chiếc cầu nối giữa quần chúng và mọi hoạt động xã hội. Những câu hô hát bài chòi như thế, hoặc là ghi lại một sự cố, một diễn biến nào đó sau lũy tre làng hay xa hơn. Ví dụ như trận lụt lịch sử năm Giáp Tý 1924 ở Phú Yên:

Giáp Tý Khải Định cửu niên

Trời làm bão lụt Phú Yên cơ hàn

Tuy Hòa cho thấu Tuy An

Đồng Xuân Phủ cũ, các làng gần sông

Đá Bia chạm khói Cù Mông

Dưới biển sóng dậy, trên đồng nước dưng

Nhà cao, nước lụt nửa lưng

Nhà thấp, đá mái nước bưng vô nhà

Mưa dầm tại bữa hăm ba

Sáng ngày hăm bốn nước đà vào sân

Đầu hôm sấm sét vang rân

Gió nam thổi kiệt mưa dầm canh ba

Canh tư nước bạc bùng lên

Ba đào chuyển động đạp thuyền nát tan

Sân đình, lẫm miếu, trần làng

Long đình hương án hoàn toàn về âm

Lúa, dâu, sắn, mía nước ngâm

Nhà sàn, kèo cột, rui mầm còn chi?

Bà già chết đứng một khi

Con thơ, vợ dại còn chi quớ làng!

……………..

Hoặc như trong sinh hoạt nội bộ gia đình, giận dữ vì chuyện sui gia:

Chuyện gì động đến sui gia

Con tôi có dại chị la chị ngầy

Hồi nào thím thím thầy thầy

Bây giờ cặc đách con này thằng kia

Nói lối: (Trẻ bay đâu? Mai đừng tát đìa. Qua kêu con Bảy nó về tao biểu đây)

Hô:

Chuyện gì mà đánh, mà ngầy

Lời khôn sự dại bảo mày phân lại tao hay

Tao làm sui đã mấy năm nay

Tao nghèo tao chịu, tao chẳng mượn vay thằng nào

Nó đừng ỷ giàu, nhà lớn, đống rơm cao

Giàu bay, bay lát, bay đừng kinh tao nghèo.

(…)

Những tính cách dân dã như thế này đã phản ánh đúng bộ mặt thật trong sinh hoạt ở nông thôn ngày trước. Và nhà văn Võ Phiến nhận xét: “Lời thơ y hệt như lời nói. Không thấy có cái bận tâm làm văn. Ở đây, những tiếng tục tĩu cũng không cần né tránh. Lời cứ xông xổng tuôn ra ngang nhiên không bị câu thúc gọt đẽo trau chuốt gì, vì vậy mà cơn giận hiện ra thực linh động[1].

Ngoài chức năng thông tin, hô hát bài chòi còn luôn tìm cho mình chỗ đứng trong thế phải bắt buộc cạnh tranh với các sân hò huê tình, để trao duyên, để ve vãn. Bài chòi cũng cố gắng “nhào” vô lĩnh vực này. Cũng đối đáp, cũng chọc ghẹo, tán tỉnh, ve gái… Ví dụ như anh chàng mượn chuyện Lục Vân Tiên để trêu ghẹo con gái ông hào phú xã bên nổi tiếng vừa có nhan sắc nhưng không kém phần đanh đá:

Bấy lâu anh ở núi Tú vi

Qua đây nghe tiếng trường thi bước vào

Tai nghe tiếng thốt ngọt ngào

Nguyệt Nga ở đó, Nguyệt Nga nào về Phiên?

Nguyệt Na  nào thác xuống huỳnh tuyền

Nguyệt Nga nào lạc vườn Bùi Kiệm nên khấn nguyền làm chay?

Gặp Tiên, Nga phải tỏ Tiên hay

Trao trâm lúc trước, em có nhớ ngày nào không?

Sao giờ này Nga lại đi lấy chồng

Để Tiên cô quạnh long đong dặm trường?

Hô nữ:

Cây nhàu ra lá cũng nhàu

Cây cau ra lá, chín mười tàu cũng cau

Em than phần em chậm bước đến sau

Để coi khách quý ai mở bầu sắc son

Tới khuya nhơn nghĩa đâu còn

Tỷ như hoa nở đầu non một mình

Hô nam:

Cây nhàu ra trái cũng nhàu

Cây cau ra lá chín mười tàu cũng cau

Em than phận em chậm bước đến sau

Có anh đây đến muộn ta kết đôi chung tình

Cũng là duyên nợ ba sinh

Gặp người khách quý để mở bình sắc son

Tới khuya nhơn nghĩa vẫn còn

Dẫu mà hoa nở đầu non anh vẫn tìm

Nhìn chung, sự phát triển câu hát hô bài chòi, rõ ràng là bắt đầu từ một nhu cầu giải trí với những điệu hô mộc mạc, đơn giản ban đầu, nó dần nâng cao thêm một bước về khả năng sáng tạo và biểu diễn đầy chất ngẫu hứng, nghệ thuật hơn hẳn buổi ban sơ, để sau đó trở thành một nhu cầu thẩm mỹ của đại bộ phận công chúng cho đến mốc cuối cùng là sân khấu hiện đại của ca kịch bài chòi sau này.

Tầm vóc của bài chòi, của hát hô bài chòi tuy không lớn, ảnh hưởng chưa bao trùm nổi cả nước, nhưng vai trò của nó cho riêng một vùng đất thì không ai phủ nhận: “Hát bài chòi cũng như lý, là loại dân ca đã được đưa lên sân khấu trong nhiều kịch bản, được nhân dân miền nam Trung bộ rất ưa thích” (Vũ Ngọc Phan – SĐd)


[1]Võ Phiến, Bài chòi, Tập san Tân văn số 1, Sài Gòn năm 1968.

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.