Hồi ký của BS Lý Chí Thỏa(BS riêng của Mao) chương 5 và 6

bia-private_life_of_chaiman_mao

Chương 5

 

Ngày 25 tháng 4 năm 1955, lúc gần ba giờ, cô y tá trưởng bệnh viện ở Trung Nam Hải với vẻ mặt căng thẳng, bối rối, báo cho tôi biết:
– Nhóm Một vừa gọi điện sang – Cô ta thì thào – Đồng chí hãy đợi ở bể bơi.
“Nhóm Một” là bí danh của Mao và những cộng sự của ông ta. Lúc đó ở Trung Nam Hải có hai bể bơi. Một bể ngoài trời, tất cả mọi người đều được phép sử dụng nó trong mùa hè. Một bể khác ở trong nhà, được xây dựng riêng cho những cán bộ lãnh đạo của đảng. Tuy vậy, dần dần, bể bơi này chỉ có Mao sử dụng và sau này ông thường hay tới đó, đến nỗi người ta phải xây thêm một phòng ngủ, một phòng tiếp khách và một phòng làm việc cho ông ngay tại bể bơi. Năm 1967, khi Cách mạng văn hoá đang diễn ra. Mao đã dọn đến ở hẳn tại ngôi nhà có bể bơi đó cho đến khi ông gần qua đời. Tại đây, ông đã đón tiếp tổng thống Nixon, thủ tướng Tanaca và nhiều chính trị gia nước ngoài khác. Ngay từ năm 1955 chữ “bể bơi” đã luôn gắn liền với Mao. Bây giờ cũng vậy, Chủ tịch đã đích thân ra lệnh cho tôi.

mao
Như thường lệ, hôm đó công việc ở bệnh viện rất bận rộn và một số bệnh nhân đã kiên tâm chờ đợi hàng giờ liền. Tôi có nhiệm vụ phải lo cho họ trước khi tôi đến bể bơi bằng xe đạp. Lý Ẩm Kiều, người đội phó đội vệ sỹ của Mao vội vã đi về phía tôi
– Tại sao đồng chí đến muộn thế? – anh ta hỏi với vẻ đầy lo âu – Đồng chí bắt Chủ tịch Mao phải chờ à?
– Tôi còn phải điều trị cho các bệnh nhân – tôi giải thích – Chủ tịch ốm à? Chủ tịch cần chăm sóc thuốc men không?
– Không, Chủ tịch chỉ muốn nói chuyện với đồng chí.
Lý Ẩm Kiều đưa tôi đến bể bơi. Mao đang nằm trên phản gỗ, say sưa đọc sách. Ông khoác một chiếc áo tắm băng vải bông lên tấm thân trần và quấn một chiếc khăn bông khác ngang hông. Trông ông vẫn nặng nề và to lớn như lần đầu tiên tôi thấy ông trên khán đài ở quảng trường Thiên An Môn. Ông có đôi vai rộng, bụng phệ và sắc mặt hồng hào. Tóc ông luôn đen và dày, trán rộng, da bóng và không có lông tơ. Cặp đùi của ông gầy, hai bàn chân thô luôn xỏ đôi tất màu cà phê. Lý Ẩm Kiều báo tôi đã đến và tôi liền xin lỗi ông vì sự chậm trễ của mình. Mao không hề bực mình. Ông để quyển sách sang bên rồi bảo Lý mang một chiếc ghế đến cho tôi. Những vệ sỹ của Mao thường thi hành ngay lệnh của ông. Cứ bốn người trong số họ cắt nhau túc trực phục vụ Mao hàng giờ.
– Trương Trí Đông chẳng bao giờ ăn đúng giờ, ngủ đúng giờ – Mao giải thích (ông tự liên hệ mình với một quan chức cao cấp trong triều đại nhà Thanh) – Tôi cũng như Trương. Mấy giờ rồi?
– Bây giờ là 4 rưỡi chiều ạ – tôi trả lời.
– Giờ này đối với tôi vẫn còn là bình minh. Đồng chí dậy lúc mấy giờ?
Tôi lúng túng. Vì sau bữa ăn trưa phần lớn người Trung Quốc thường chợp mắt một chút và tôi vẫn chưa hề biết thói quen của Mao, nên tôi không dám chắc là ông muốn biết tôi dậy sau giấc ngủ trưa vào lúc nào hay tôi dậy vào buổi sáng lúc mấy giờ.
– Buổi sáng tôi thường dậy lúc gần 6 giờ – cuối cùng tôi đã nói – và buổi chiều tôi chợp mắt một chút ạ.
– Đồng chí là bác sỹ – Mao vừa cười vừa nói – nên đồng chí mới lưu tâm đến sức khỏe và cuộc sống của đồng chí theo thời gian biểu một cách nghiêm ngặt.
Trong cái nhìn của Mao, ông tỏ ra là người hiểu biết và chắc là nhân ái – bằng điệu bộ của ông nhiều hơn là bằng lời nói. Tôi bị ông chinh phục, vì tôi cảm thấy mình đang đối diện với một người vĩ đại.
Ông hút thuốc lá của Anh, mác “555”. Khi hút, ông dùng thêm tẩu.
– Tống Khánh Linh vợ goá của Tôn Trung Sơn tặng tôi cái tẩu này và khuyên đã khuyên tôi nên dùng tẩu, bên trong có đầu lọc để giảm hàm lượng nicotin. Tôi đã hút thuốc từ nhiều năm nay nhưng tôi luôn tự hỏi, chất nicotin đã gây tác hại như thế nào. Đồng chí có hút thuốc không?
– Tôi có hút, nhưng không nhiều. Buổi tối, sau giờ làm việc tôi thường hút ba hoặc bốn điếu.
– Đồng chí là bác sỹ hút thuốc đầu tiên mà tôi biết.
Ông nói nhiều lần về tẩu thuốc và vừa nhìn tôi vừa cười chế nhạo tinh quái.
– Hút thuốc cũng là phương pháp luyện tập hít thở tốt đúng không?
Tôi không biết ông nói đùa hay nói thật, nên tôi chỉ cười và không nói gì. Mao nhìn tóc tôi, rồi nói:
– Đồng chí chỉ trên 30 tuổi, mà sao tóc đã sớm bạc như tôi thế?
Tôi đáp, tóc tôi bạc trước tuổi là theo gen di truyền.
– Cứ theo tóc mà phán, thì tôi già hơn Chủ tịch nhiều.
Mao cười:
– Đồng chí nịnh tôi chứ gì?
Dần dần tôi đã bạo hơn.
Mao hỏi tôi về việc học hành, về quá trình công tác của tôi và lắng nghe tôi nói.
– Từ khi đi học, đồng chí đã được giáo dục hoàn toàn theo kiểu Mỹ – ông nói – Trong cuộc chiến tranh giải phóng chống Tưởng Giới Thạch và Quốc dân đảng, người Mỹ đã ủng hộ Tưởng. Và ở Triều Tiên họ cũng đã chống lại chúng ta. Mặc dù vậy, tôi vẫn thích những người đã từng học ở các trường của Mỹ và Anh làm việc cho tôi. Tôi cũng rất thích ngoại ngữ. Người ta đã nhiều lần đề nghị tôi học tiếng Nga, nhưng tôi không thích. Tôi thích tiếng Anh hơn. Có lẽ đồng chí có thể giúp được tôi việc này?
Tôi đồng ý.
Mao ngừng nói, rồi nghiêm giọng:
– Mới có 15 tuổi, khi vẫn còn là trẻ con, đồng chí đã gia nhập tổ chức Phục hưng Quốc gia vào năm 1935. Khi đó, đồng chí chưa hề hiểu chính trị là gì. Ngoài ra, đồng chí đã kể những mẩu chuyện về quá khứ của đồng chí. Tôi thấy không có vấn đề gì.
Ông kể cho tôi nghe về Lý Thế Dân, vị hoàng đế lập ra triều đại nhà Đường (618-907), đã từ chối lời can ngăn của quan thượng thư không nên dùng một viên tướng không rõ lai lịch ngay cả khi viên tướng đó ngoan ngoãn tuân lệnh vua. Nhưng viên tướng đó lại có tài năng phi thường và đã phụng sự nhà vua rất tích cực. Chẳng bao lâu nhà vua và viên tướng đó đã cộng tác với nhau rất chặt chẽ

mao4
Mao nhìn tôi, nói:
– Đó chính là sự thành thật. Chúng ta cần phải thành thật với nhau. Quan hệ và sự thành thật của chúng ta cần phải trải qua thử thách trong một thời gian dài.
Mao nói tiếp:
– Chúng ta lấy Hứa Thế Hữu làm thí dụ – Ông nhắc đến nhà sư từng là tỉnh đội trưởng tỉnh Nam Kinh – Hứa Thế Hữu nguyên là đồng chí của Trương Quốc Đạo, một trong những người sáng lập ra đảng cộng sản Trung Quốc nhưng đã chạy sang hàng ngũ Quốc dân đảng sau khi cãi vã với Mao. Hứa Thế Hữu không chịu theo Trương Quốc Đạo và giải thích điều đó là do lòng trung thành của ông đối với Mao. Trong đợt chỉnh huấn năm 1942 ở Diên An, nhiều người ngờ vực lòng trung thành của Hữu, vì trước đó đồng chí ấy đã từng làm việc cho Trương Quốc Đạo. Hứa bị phê bình kịch liệt. Đồng chí ấy đã thất vọng và nghĩ đến việc rút quân của mình khỏi Diên An. Khang Sinh muốn bắt và xử bắn đồng chí ấy. Nhưng tôi muốn đích thân nói chuyện với đồng chí ấy. Nhiều người ngại rằng đồng chí ấy có thể làm gì tôi, nhưng tôi không sợ. Khi gặp tôi, đồng chí Hứa đã khóc. Tôi nói, đồng chí ấy đừng khóc nữa và trả lời hai câu hỏi đơn giản của tôi: “Đồng chí tin Trương Quốc Đạo hay tin tôi?” tôi hỏi. “Tất nhiên, tôi tin đồng chí” đồng chí Hứa trả lời. “Đồng chí muốn đi hay ở lại, tôi hỏi tiếp. “Tất nhiên là tôi muốn ở lại” đồng chí ấy đáp. Và tôi nói: “Được, đồng chí hãy ở lại. Đồng chí tiếp tục chỉ huy bộ đội của đồng chí. Thế thôi”. Từ đó, đâu phải Hứa Thế Hữu đã không hoàn thành nhiệm vụ của đồng chí ấy.
Sau khi lo lắng và nản lòng cả năm trời, bỗng nhiên tôi cảm thấy vững tâm. Mao đã gạt bỏ nguồn gốc xuất thân và quá khứ chính trị của tôi. Ông là người lãnh đạo cao nhất và không ai có thể nghi ngờ uy tín của ông.
Một vệ sỹ đến chuẩn bị bữa ăn cho Mao. Chủ tịch mời tôi dùng cơm chung. Nhiều món ăn được chọn cho phù hợp – cá, thịt lợn với ớt thái lát (món ăn mà Mao thích), thịt cừu xào với tỏi tây và một đĩa rau. Trong khi đó các món ăn thường được đảo qua dầu nóng được dưới thêm xì dầu và rắc thêm muối.
Vào giữa những năm 1950, hầu hết mọi người đều phải chịu dựng một cuộc sống nghèo khó, thực phẩm thiếu thốn và dầu ăn trở thành một món ăn xa xỉ. Nhưng tôi lại quen ăn những món nhúng dầu. Vì vậy tôi đã phải cắn răng nhịn.
– Đồng chí không ăn à? – Mao có vẻ trách tôi – Món cá ngon lắm, thịt lợn cũng thế.
– Tôi không đói lắm – tôi cáo từ.
Mãi sau này tôi mới quen với khẩu vị của ông.
– Đây là bữa sáng và bữa trưa của tôi – ông nói – Mỗi ngày tôi ăn hai bữa là đủ. Hình như bây giờ chưa phải là giờ ăn của đồng chí?


nhadoctai14


Chúng tôi tiếp tục trò chuyện. Ông muốn biết tôi có luôn quan tâm đến triết học không.
– Khi còn là sinh viên, chưa bao giờ tôi đọc những cuốn sách giáo khoa về nghề y của tôi kỹ lưỡng như tôi mong muốn – tôi đáp – Tôi không có thời gian để đọc những cuốn sách khác. Từ khi trở thành bác sĩ, tôi hoàn toàn dành thời gian cứu bệnh nhân. Vì vậy, đến nay tôi không có điều kiện để đọc sách về triết học. Nhưng tôi cũng đã đọc hai bài của Chủ tịch: “Bàn về thực tiễn” và “Bàn về mâu thuẫn”.
Thực ra, tôi rất thích hai bài này. Mao viết rất hay, dung dị và chính xác. Bài “Bàn về thực tiễn” đã cho tôi thấy, sự hiểu biết đúng đắn chỉ có thể có được từ hành động hơn là từ những lý thuyết suông. Đó là một bài học bổ ích đối với một bác sĩ phẫu thuật tương lai. Bài “Bàn về mâu thuẫn” đã giải thích cho tôi, rằng người ta cần phải tìm hiểu bản chất của vấn đề thay vì tập trung vào hiện tượng bên ngoài của nó.
Mao cười.
– Trong cuộc kháng Nhật (1937-1945) tôi đã đề nghị đưa môn triết học vào Trường đại học chống Nhật ở Diên An. Lúc đó tôi nghĩ, tôi còn đúc kết kinh nghiệm cách mạng của chúng ta, trong đó tôi đã kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác vào thực tế cụ thể ở Trung Quốc. Vì thế tôi đã viết cả hai bài này. Tôi nghĩ, bài “Bàn về thực tiễn” có ý nghĩa hơn bài “Bàn về mâu thuẫn”. Tôi phải viết đề cương bài “Bàn về mâu thuẫn” trong hai tuần, nhưng bài giảng thì chỉ có hai tiếng đồng hồ.
Sau này, nếu đôi khi nhớ lại tôi đã tự hỏi, tại sao trong lần gặp đầu tiên, tôi lại gây ấn tượng tốt cho Mao như vậy, thì tôi lại phải nghĩ đến đoạn trao đổi này. Ngay sau đó ít lâu, tôi trở thành người gần gũi với Mao và với các cộng sự tin cậy nhất của ông, tôi mới biết, hai bài viết này quan trọng đối với Mao như thế nào. Mao coi đó là những bài học cơ sở đưa đến sự phát triển triết học của chủ nghĩa Marx-Lenin – tức là sự áp dụng “chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh cụ thể của Trung Quốc. Không những Liên Xô đã coi thường bài viết này, mà còn gán cho những bài viết đó có tính chất xét lại. Có tin đồn Stalin đã cử P. F. Yudin, một triết gia mác xít- Lenin nít nổi tiếng sang làm đại sứ Liên Xô ở Trung Quốc. Do vậy, ông ta đã gần gũi với tư tưởng Mao và viết bài về tư tưởng đó. Mao thường gặp Yudin, rồi hai người tranh luận với nhau đến tận đêm khuya. Nhưng Yudin đã cương quyết phủ nhận những quan điểm của Mao, cho đến khi Mao phật lòng. “Có phải thứ triết học nào đã va chạm với Mác và Lenin ở giới hạn của nó?“, đôi khi ông hỏi. “Sự liên hệ với kinh nghiệm cách mạng của Trung Quốc không thể tạo ra những tư tưởng triết học mới sao?”
Tuy nhiên buổi chiều hôm đó tôi vẫn chưa biết tất cả sự việc mà Mao vẫn còn dè dặt.
Ông nói:
– Tôi nghĩ, đồng chí nên đọc vài cuốn sách triết học. Là bác sỹ, điều đó có thể rất bổ ích đối với đồng chí. Tôi vừa mới đọc xong “Phép biện chứng tự nhiên của Ăng ghen. Đồng chí cầm cầm lấy cuốn sách này. Tôi đã từng nghe, ở các trường đại học bên Mỹ người có học vị hàn lâm cao nhất trong khoa học tự nhiên và thần học là tiến sĩ triết học. Rõ ràng, người Mỹ cũng có quan điểm cho rằng, trong tất cả các ngành khoa học, triết học đóng một vai trò đầy ý nghĩa. Tôi đã nắm được điều quan trọng đó để nghiên cứu lịch sử. Nếu không biết gì về lịch sử, chúng ta không thể hiểu được cái gì đang xảy ra trong hiện tại. Và đồng chí cũng nên biết về văn học. Một khi là bác sỹ, thường xuyên giao tiếp với nhiều người, đồng chí chỉ sử dụng những kiến thức y học không thôi, thì đồng chí không còn quan tâm đến những điều khác. Đồng chí sẽ không nói được ngôn ngữ như vậy.
Mao dừng một lát.
– Hôm nay như thế là đủ rồi. Trong tương lai chúng ta sẽ còn có nhiều dịp để thường xuyên trao đổi với nhau.
Khi ra về, ông bất chặt tay tôi.
Hơn bảy giờ tối, tôi rời bể bơi mà trong đầu chất chứa bao suy tư. Cuộc gặp gỡ có quá nhiều bất ngờ. Trước tiên, tôi thấy Mao nằm trên giường và tôi đã làm quen với thói quen ngủ nghê kỳ quặc, lối khôi hài khô khan của ông. Rốt cuộc, ông đã làm cho tôi phát điên lên, khiến tôi nói năng huyên thuyên. Ông là người làm cho người khác sợ hãi, đồng thời ông cũng là người xã giao không ngoan và không sùng bái thần tượng. Sự hồi hộp đã biến mất và tôi cảm thấy yên tâm hơn so với những năm trước đây. Mặc dù giữa chúng tôi vẫn luôn luôn còn hố sâu ngăn cách và tôi chỉ biết rất ít về ông, nhưng tôi chắc rằng, tôi đang đối diện với một nhân vật quan trọng. Tôi rất tự hào vì đã được giao nhiệm vụ đày tin cậy là phục vụ ông. Đó là một dịp may mà tôi không dám mơ đến. Nhưng liệu tôi có hoàn thành nhiệm vụ hay không? Tôi nên chuẩn bị như thế nào đây? Người ta đã trông mong ở tôi điều gì? Tôi lập tức tìm gặp Uông Đông Hưng. Tôi kể cho ông ta nghe về cuộc nói chuyện của chúng tôi. Uông hoan hỷ.
– Đồng chí thấy không? Tôi đã nói ngay với đồng chí là đồng chí sẽ toại nguyện. Đó là sự khởi đầu tốt đẹp. Sau cũng thế!
Chuông điện thoại reo. Vệ sỹ của Mao là Lý Ẩm Kiều gọi điện đến. Tôi đã gây ấn tượng rất tốt đối với Mao và tôi đã vượt qua được thử thách. Mao muốn tôi sẽ là bác sỹ riêng của ông.
– Tôi sẽ báo việc này cho Bộ trưởng công an La Thụy Khanh- Uông nói – Bây giờ đồng chí về nghỉ đi. Và nhớ giữ kín tất cả những gì đã xảy ra ngày hôm nay.
Tham_co_trong_long_cong_chua_Mao_Trach_Dong_phunutoday.vn_2
Lý Liên là người duy nhất được tôi kể cho nghe về nhiệm vụ mới của tôi. Cô ấy cũng nghĩ, hẳn tôi phải gây được thiện cảm tốt đẹp rồi. Nếu không thì Mao đã không nói chuyện với tôi lâu như vậy và lại còn mời tôi cùng dùng cơm. Nhưng tôi vẫn còn băn khoăn. Tôi nói:
– Chúng ta sẽ thấy liệu công việc của tôi có thuận lợi như vậy hay không?
Hôm sau Phó Liêm Chương gọi điện cho tôi và mời tôi đến thăm nhà ông ở ngõ Dây Cung. Tôi đạp xe đến nhà ông ta. Lần này, ông đích thân ra tận cửa chào và bất tay tôi:
– Đồng chí kể cho tôi nghe đi Tôi không hề hay biết, tin mới này lại lan nhanh đến như vậy. Phó Liêm Chương lắng nghe tôi kể lại cuộc gặp gỡ giữa tôi và Mao. Câu chuyện thường làm ông phấn khích. Ông rót trà mời tôi, hai lần đi quanh bàn trà nhỏ và lẩm bẩm: “Thật là may mắn”. Cuối cùng ông ta cười và nói với tôi:
– Đồng chí thật may mắn. Lần đầu gặp Mao chủ tịch mà đồng chí đã được nói chuyện với Chủ tịch lâu như vậy. Được lắm!
Tôi cảm thấy Phó Liêm Chương ngạc nhiên ra mặt và có ý ghen tị.
Phó Liêm Chương nói:
– Năm 1934, lúc đó Chủ tịch mắc bệnh sốt rét, nhưng Chủ tịch lại muốn ra mặt trận, nên Chủ tịch đã yêu cầu tôi chạy chữa cho Chủ tịch. Khi đó, tôi đã cho Chủ tịch uống ký ninh. Và thế là Chủ tịch lại ra trận được và giao phó cho tôi chăm sóc vợ Chủ tịch đang có mang, đó là nữ đồng chí Hạ Tử Trân. Tôi đã đỡ đứa con của họ chào đời.
Hai má Phó nóng bừng, khi ông nhớ lại thời kỳ đó. Những hạt mồ hôi lăn trên trán ông. Ông nhấp vài ngụm nước đun sôi. Ông nói ngắn gọn:
– Tôi không những uống trà mà còn dùng bất cứ chất kích thích nào. Sau đó, Chủ tịch đã cứu vớt đời tôi.
Phó nói tiếp và lái câu chuyện sang hướng khác. Lần đó tôi bị buộc tội là thành viên của nhóm chống bôn-sê-vích của Quốc dân đảng và Chủ tịch Mao đã đứng ra bảo vệ tôi. Hồi trẻ, tôi mắc bệnh lao và lần đó Chủ tịch cũng rất tốt với tôi. Trong cuộc Vạn lý trường chinh, khi mọi người khác phải đi bộ, thì Chủ tịch đã để cho tôi cưỡi ngựa. Vì sức khỏe của tôi rất yếu, nên Chủ tịch rất quan tâm, bảo người lo cho tôi mỗi ngày được ăn một con gà. Hồi đó, thịt gà đắt lắm và khó mua nữa, nên mỗi ngày ăn một con gà thì thật là xa hoa không tưởng tượng nổi.
Phó rót thêm trà cho tôi và nói tiếp:
– Tôi đã kể tất cả cho đồng chí nghe, vì tôi muốn đồng chí hiểu Chủ tịch.
Tôi biết quá ít về thời kỳ đầu của đảng cộng sản Trung Quốc và quá khứ của Mao. Vì vậy tới đòi Phó kể tiếp câu chuyện.
– Cái mà đồng chí kể, cho tôi nghe lúc này rất bổ ích đổi với tôi.
Phó cười.
– Chủ tịch mắc chứng mất ngủ. Đầu những nàm 1930, trong thời gian ở Giang Tây, tôi đã phải hoá trang thành thương gia để đến Thượng Hải mua thuốc giảm đau veronal và đường gluco. Tôi đã chỉ dẫn cho Chủ tịch dùng thuốc trước khi đi ngủ. Thuốc đã có hiệu quả và Mao rất sung sướng. Đồng chí thấy đấy, tôi vẫn trung thành với Chủ tịch. Bây gìờ, Chủ tịch và tôi đều già rồi, nhưng tôi không còn sung sức như Chủ tịch.
Phó nhìn tôi chăm chú.
– Việc đồng chí được giao nhiệm vụ có nghĩa là đảng đã tin tưởng đồng chí – ông nói – Đó là một nhiệm vụ vinh quang, nhưng cũng đầy khó khăn.
Bữa ăn được dọn ra. Phó nói:
– Hôm qua, Chủ tịch đã mời đồng chí dùng cơm, nay đến lượt tôi.
Đó chỉ là bữa ăn đạm bạc, ngoài các món khác còn có món gà.
– Hàng ngày tôi thường ăn gà.
Ông gọi người mang rượu vang ra và nâng ly.
– Thường thường tôi không uống rượu vang, nhưng hôm nay là ngoại lệ – ông nói tiếp – Là bác sỹ riêng của Mao chủ tịch, đồng chí cần phải thận trọng. Nếu có điều gì, đồng chí cứ nói với tôi. Tôi sẽ giúp.
Tôi không biết Phó có thể giúp tôi ra sao. Rõ ràng ông chỉ muốn nghe được càng nhiều càng tốt về Mao và về những hoạt động của Mao. Sau đó, Phó ăn một chút thịt gà, rồi đặt đĩa của mình sang bên. Ông nói:
– Mỗi ngày tôi ăn năm bữa, nhưng ăn rất ít. Chủ tịch muốn đồng chí dạy tiếng Anh cho Chủ tịch – Phó nói tiếp – Đấy là một dịp may đề đồng chí kết thân với Chủ tịch. Đồng chí không những phải chăm sóc sức khỏe cho Chủ tịch, mà còn phải làm tất cả những việc mà Chủ tịch đòi hỏi.
Tôi cảm thấy lời khuyên của Phó đã xúc phạm tôi. Tôi đáp lại không đắn đo:
– Một khi tôi làm theo lời khuyên của đồng chí, thì tôi lấy đâu ra thời gian cho chuyên môn của tôi.
Phó nghiêm nghị:
– Đồng chí cần phải nhìn nhận vấn đề như thế này: Chủ tịch uyên bác lắm và đồng chí có thể học hỏi được rất nhiều ở Chủ tịch. Đồng chí là bác sỹ. Nếu đồng chí mở mang kiến thức của mình, đồng chí sẽ thường xuyên có nhiều cơ hội hơn để trao đổi với Chủ tịch. Khi đó đồng chí sẽ hiểu Chủ tịch hơn.
Mao cũng đã khuyên tôi trau dồi, mở mang kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau và tới hiểu rằng Phó có lý. Mao vẫn còn trẻ, khỏe và nhiệm vụ của tôi không chỉ kéo dài vài năm để chữa chạy bệnh tật cho ông, mà còn phải lo cho ông luôn luôn khỏe mạnh. Tôi phải làm quen với cá tính, đặc điểm, thói quen của ông và chiếm được lòng tin của ông. Tôi cảm ơn lời khuyên của Phó. Ông ta nắm tay tôi và siết chặt.
Mao Zedong Swims the Yangtze River
– Tuần nào cũng đến tôi nhé.
Ngoài phố, người đông nghịt, không khí ngày lễ tràn ngập. Bắc Kinh đang sửa soạn đón ngày lễ mồng l tháng Năm, những tòa nhà được trang hoàng bằng những tấm biểu ngữ và những lá cờ đỏ rực. Lòng tôi lâng lâng hạnh phúc. Sau khi trỏ về, giấc mơ của tôi tan nhanh như bong bóng xà phòng. Những người cùng thế hệ với tôi – anh em ruột, họ hàng và nhiều bạn bè tôi đã tìm được chỗ đứng của họ trong xã hội mới, cách mạng này. Họ từng là chiến sỹ lão thành, những người đàn ông của những năm 30 ở Diên An, họ là những người cách mạng tiên phong. Sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, họ đã được thưởng những chức vụ quan trọng. Mặc dù, trong phong trào “Ba chống”, đôi khi họ đà phê bình nhau để bám giữ chức vụ của họ và bây giờ họ được kính trọng như những người thành đạt trong xã hội. Họ là những người lãnh đạo cao cấp làn việc trong các bệnh viện lớn của đất nước và được ton kính.
Ngược lại, sự nghiệp của tôi lại bế tắc. Mặc dù trước đó ít lâu thủ tướng Chu Ân Lai đã thông báo, bệnh viện của tôi ở Trung Nam Hải sẽ sát nhập với bệnh viện đã xây dành cho Hội đồng nhà nước, và thủ tướng sẽ bổ nhiệm tôi làm giám đốc bệnh việc mới này. Nhưng tất cả sự thay đổi cơ cấu là còn đang dang dở. Tôi không hiết tương lai sẽ ra sao. Nhờ trở thành bác sỹ riêng của Mao, bây giờ tôi có thể rời khỏi bệnh viện và thoát khỏi sự tù túng của nó. Khi trở thành bác sỹ riêng của Mao, tôi được nhiều người kính trọng. Mao là người lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc và được hàng triệu người tôn sùng. Nhưng ông sống xa lánh với tất cả mọi người, thậm chí với cả những nhà chính trị thân cận nhất của ông. Ông được bảo vệ rất cẩn mật. Với người thường, ông là nhân vật khó hiểu và khó gần. Ngay những cán bộ cao cấp của đảng cũng không thể trực tiếp gặp ông và chỉ trong những cuộc họp chính thức họ mới có thể gặp mặt ông. Là bác sỹ riêng của Mao, tôi thường xuyên túc trực bên ông, ngày nào tôi cũng chỉ cho ông học tiếng Anh, nói chuyện với ông về triết học và chứng kiến những điều xảy ra xung quanh ông.
Cuộc đời tôi đã thay đổi. Bầu trời mở ra, đất ôm lấy tôi. Tôi không còn là tôi nữa. Ngay sau khi trở về vào năm 1949, tôi đã tìm gặp Phó Liêm Chương. Trong lúc chào hỏi tôi, ông không hề đứng dậy và mặc dù vậy tôi vẫn cảm thấy vinh hạnh được một cán bộ cao cấp như vậy đón tiếp. Bây giờ ông lại mở cửa cho tôi gần như với vẻ nhũn nhặn. Tôi sớm nhận ra rằng, bỗng nhiên nhiều chính trị gia cao cấp đối xử với tôi lễ độ, ân cần và họ cứ muốn gợi chuyện tôi. Tôi không còn là một thầy thuốc bình thường nữa, mà đã là bác sỹ riêng của Mao. Lòng tôi dâng lên niềm hân hoan!

images (14)


Chương 6Chỉ vài ngày sau khi tôi được tiếp kiến Mao lần đầu vào buổi chiều ngày lễ mồng một tháng Năm, một vệ sĩ của Mao đã triệu tôi đến ngay để gặp chủ tịch vào buổi tối.
Tôi vội đến tư dinh của Mao và nhận ra ông ông ta bị ốm. Nhưng tại sao người ta lại gọi tôi muộn như vậy?
Cho tới lúc đó, tôi chưa bao giờ bước chân vào cái tư dinh thâm nghiêm, có vẻ đầy bí ẩn của Mao. Đối với tôi cuộc Vạn lý trường chinh của bản thân tôi, từ một bác sĩ bình thường trở thành một nhân viên Trung tâm của cuộc cách mạng, đã chấm dứt. Tôi nghĩ, từ nay trở đi, tôi sẽ gắn chặt với cái vương quốc thâm cung bí sử này. Một người gác đi vượt lên trên trước tôi.
Hình như Mao thường sống một cuộc sống khổ hạnh và ông là một tấm gương về sự tiết kiệm. Sau khi ông qua đời, cái cửa tư dinh của ông được mở ra thì những đồ dùng cũ kỹ, chiếc áo khoác buổi sáng, chiếc áo bành-tô ông mặc mới xuất hiện trước công chúng là những bằng chứng cho thấy ông đã cự tuyệt sự xa hoa một cách có ý thức. Mao vốn là một nông dân và có sở thích đơn giản. Mao chỉ mặc quần áo khi chẳng đừng, còn hầu như lúc nào ông cũng khoác một chiếc áo choàng và nằm trên giường, để chân trần. Khi cần, ông mặc nhưng bộ quần áo đã sờn, đi đôi giày buộc dây đã mòn đế. Theo quy định, ông chỉ mặc bộ quần áo “kiểu Mao” và đi giày buộc dây khi ông xuất hiện trước đám đông. Thông thường, một trong những vệ sĩ của Mao phải sửa lại giày mới cho ông. Những bức ảnh cho thấy ông ăn mặc tươm tất khi đang làm việc trong văn phòng của ông đều là được bố trí sẵn. Hầu hết công việc, ông đều giải quyết trong phòng ngủ hoàc bên thành bề bơi.
Mặc dù vậy, ông sống như một hoàng đế. Tư dinh của ông năm ở chính giữa khu Trung Nam Hải, ngay trong vườn hoa của triều đình trước đây, hướng về phía Nam, giữa hồ Trung và hồ Nam. Tư dinh này được canh gác cẩn mật nhất thế giới. Khách nước ngoài có cảm giác rằng, những vị trí canh phòng có vũ trang không hề bỏ sót một chi tiết nào. Thực ra, tuy lính gác được bố trí khắp nơi ở Trung Nam hải, nhưng họ kín đáo đến nỗi người ta không nhận ra ngay điều đó. Họ chủ yếu tập trung vào Mao và tư dinh của ông. Vệ sĩ của Mao đồng thời cũng là những người phục vụ ông ta. Họ đều mang súng ngắn, nhưng thực ra họ không cần phải mang vũ khí, vì bên ngoài khu vực trọng yếu đó người ta đã thực hiện những biện pháp an ninh nghiêm ngặt đến nỗi tư dinh của ông kín như cái kén. Bên cạnh những vệ sĩ của Mao thường trấn ở bên ngoài cũng như bên trong tư dinh, còn những “trạm gác ngoại vi” của những nhân viên của Chánh văn phòng an ninh Uông Đông Hưng. Họ cũng đều được vũ trang.
Những người lính có vũ trang của các đơn vị đồn trú trung ương, tuy chính thức dưới quyền của Bộ tổng tham mưu, nhưng thực ra lại thuộc quyền cai quản trực tiếp của Uông Đông Hưng với tư cách là Phó phòng an ninh công cộng, canh gác những khu vực lân cận của Trung Nam Hải. Mao cứ định đi đâu, là ở đó người ta phải lo bảo vệ
Nơi ở của Mao được giữ tuyệt mật. Chỉ có những cán bộ lãnh đạo cao nhất của đảng mới được thông báo nơi ở của ông. Khi ông công khai tới Trung Nam Hải, xe chở ông được đỗ cách biệt với dân chúng, để người ta khỏi nhận ra số xe của ông. Ngoài ra, biển số xe thường xuyên được thay đổi. Ngay sau khi những người cộng sản cướp chính quyền, những biện pháp an ninh một phần được thực hiện theo một phần kiểu của Liên Xô, một phần theo kiểu của thời vua chúa ngày xưa.

images (15)
Dinh thự của Mao, vốn được xây dựng từ thời Càn Long (1735-1796), vừa là thư viện vừa là nơi ẩn dật của vua. Ngôi nhà này hàng thập kỷ không được giữ gìn cẩn thận và có nguy cơ bị hỏng. Nó vẫn chưa lấy lại được cái vẻ hào nhoáng ngày xưa, vì công việc sửa chữa còn đang dở dang. Khi lần đầu bước vào ngôi nhà đó, tôi có ấn tượng rằng nét hào hoa chính là ở sự giản dị có chủ ý trong nội thất. Nhưng Càn Long vốn là người ưa hiện đại.
Cổng chính dân đến tư dinh của Mao ở phía Nam toà nhà, theo lệ cổ, được sơn màu tươi mát. Tấm bảng gỗ treo trên cổng mang chữ “Vườn thượng uyển”. Tất cả những chữ viết treo trên những lối vào toà nhà đều là bút tự của Càn Long. Những viên ngói trên mái đều có màu xám, chứ không phải vàng suộm? Như trong Cấm Thành, nhưng những toà nhà lại được xây dựng theo cùng một phong cách như nơi ở của vua. Bên trong cổng chính, ở hai bên lối đi là hai căn phòng nhỏ thường có vệ sĩ. Chỉ có những người có chứng minh thư loại “A” mới được phép đi vào toà nhà có tường bao bọc xung quanh đó. Đi qua một cái sân rộng là đến ngay “Phòng trường sinh” mà Mao đã ở trong đó, đã đón tiếp khách nước ngoài và tổ chức lễ tiệc trước khi xây Đại lễ đường nhân dân vào năm 1959. Sau “Phòng trường sinh” là “Phòng giao hòa”, nơi thư viện khá phong phú của Mao đã được chuyển vào, nhưng hầu như thường đóng cửa im ỉm. Những phòng riêng của Mao, được kể là có mùi hoa cúc, ở sân thứ hai có mái che ở trên nối với sân thứ nhất. Dưới bóng những cây thông và những cây trắc bá già đẹp đẽ là những chiếc bàn, những chiếc ghế bằng mây. Mùa hè Mao thường ra đây ngồi, dưới trời lộng. Dinh thự của ông gồm hai toà nhà chính và nhiều công trình phụ. Phòng lớn ông vừa dùng làm phòng ngủ, vừa dùng làm phòng làm việc thì ở toà nhà thứ nhất, cách biệt với phòng ngủ của vợ ông bằng một phòng ăn rộng. Trong tòa nhà thứ hai, đi qua một hành lang nối với phòng ngủ của Giang Thanh là phòng khách của bà ta. Bên cạnh đó là phòng của Diệp Tử Long, chánh thư ký riêng, đồng thời cũng là quản trị cao cấp của Mao, chuyên lo đáp ứng những nhu cầu cá nhân cho hai vợ chồng Chủ tịch.
Trong một toà nhà khác ở phía Tây nơi ở của Diệp Tử Long, thông với “phòng Giao hòa” là nhà bếp. Diệp cũng lo việc ăn uống cho Mao. Việc chế biến thực phẩm tuy theo mẫu của Liên Xô, nhưng lại phỏng theo những phương cách cổ điển của thời vua chúa và được Phòng an ninh của Uông Đông Hưng canh chừng. Ngay sau khi Mao từ Moscow trở về vào đầu năm 1950, Phòng an ninh đã được hai chuyên gia Liên Xô truyền cho những phương pháp chế biến và kiểm tra thực phầm dành cho giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải. Một xí nghiệp nông nghiệp – công xã Tụ Sơn – chuyên cung cấp rau, thịt, trứng và gà cho Mao và những chính trị gia cao cấp khác. Những đầu bếp của Mao chỉ cần gửi thực đơn đến phòng cung ứng của Phòng an ninh ở phía bắc Trung Nam Hải, gần công viên Bắc Hải. Phòng cung ứng chuyển tiếp thực đơn đến công xã Tụ Sơn. Từ đó, thực phẩm được chuyển về phòng cung ứng ở công viên Bắc Hải, để người ta khám nghiệm thực phẩm đó trong hai phòng thí nghiệm xem chúng tươi đến mức nào, mức độ dinh dưỡng ra sao và có độc tố không. Sau đó, thức ăn được nếm thử trước khi mang cho Mao thưởng thức. Đối với tất cả các quan chức cao cấp, kể cả ở các tỉnh, người ta đều áp dụng phương pháp tốn kém đó, ngốn không biết bao tiền của của dân. Phòng ngủ của Mao nối với một tòa nhà khác mà ông thường dùng làm văn phòng bằng một hành lang. Tuy nhiên, văn phòng này quanh năm thường khoá trái và chỉ mở cửa khi cần để chụp ảnh. Mao chẳng bao giờ dùng đến nó.

2008_09_07_hcmmao[1]
Một tòa nhà khác chắn ngang toà nhà mà Mao và Giang Thanh sống trong đó là nơi Lí Minh, con gái của Mao với Hạ Tử Trân, Lí Nạp, con gái của ông với Giang Thanh và chị của Giang Thanh là Lý Vân Lục đang cư ngụ.
Lý Vân Lục già hơn Giang Thanh vài tuổi, chân bà vẫn bị bó bột. Sau khi mẹ bà qua đời, bà phải nuôi đứa em gái của bà. Về sau bà trở thành tình nhân của một chủ hiệu. Khi giới lãnh đạo chuyển về Trung Nam Hải, Giang Thanh yêu cầu bà cùng với con trai bà về ở với bà ta để giúp đỡ bà ta trong việc dạy dỗ Lí Nạp và Lí Minh. Cả Mao và Giang Thanh đều không quan tâm đến những đứa con của họ. Bọn trẻ được đưa đến ký túc xá. Thậm chí, trong những kỳ nghỉ, họ chỉ gặp chúng trong bữa ăn.
Trong toà nhà thứ tư là văn phòng của các nhân viên y tế và thư ký của Mao cũng như là nơi ở của đứa cháu trai Viên Tân, lúc đó còn đang học trung học.
Ngoài ra, ở đó còn có một bàn bóng bàn, một phòng dùng để cất giữ những quà tặng, quần áo của Mao, nhiều đồ lặt vặt của Giang Thanh. Trong một phòng khác có để những bức tranh của các họa sĩ nổi tiếng như Tề Bạch Thạch và Từ Bắc Hồng tặng Mao. Tuy nhiên, hầu hết những tặng phầm đều là của nước ngoài. Về sau tôi phát hiện ra một hộp xì gà Cuba lớn, bằng gỗ chạm, rất nghệ thuật, do Fidel Castro tặng và một két rượu Brandy lâu năm do Chủ tịch nước Rumania Ceausescu tặng. Vua Iran tặng Mao một hộp đựng thuốc lá chạm vàng và bạc. Diệp Tử Long vừa là người cai quản bếp núc, vừa là người trông coi căn nhà kho đó.
Tư dinh có một cái sân bên trong lớn nhất, nơi có những khóm tre và cây cối luôn luôn xanh tươi, có một vòi phun nước và một dàn nho. Trong sân còn có một vườn rau, cuối những năm 1960, người ta đã xây một hầm ngầm phòng không trong khu vườn này. Giữa năm toà nhà, một lối vào ở phía sau nối với căn phòng của chính phủ. Trước khi Đại lễ đường được xây dựng, các đại sứ thường đến viếng thăm phòng này. Những phòng ngủ của các vệ sĩ của Mao và các y tá của Giang Thanh cũng ở trong tòa nhà này. Ngoài ra, ở đó còn cất chứa thực phẩm của Mao trong những tủ lạnh sản xuất từ những năm 1940 mang nhãn hiệu General Electric cũng như dự trữ những vật dụng hàng ngày và thuốc men
Những phòng của vệ sĩ của Mao, trong đó lịch trình của Mao cũng được lưu tâm, ở phía sau tòa nhà thứ tư. Bất kỳ ai, kể cả những nhân vật thân cận muốn nói chuyện với Mao, trước hết đều phải trình báo đám vệ sĩ này. Từ đó, ngày 30-4-1955, tôi cũng được thông báo là Mao ốm.
Tôi được một vệ sĩ đón.
– Có chuyện gì thế – Tôi hỏi.
– Chủ tịch đã uống hai viên thuốc ngủ, nhưng không tài nào chợp mắt được – Người vệ sĩ trả lời.
– Chủ tịch muốn nói chuyện với đồng chí.
Tôi được đưa vào phòng ngủ của Mao. Đó là căn phòng khá rộng, gần rộng bằng phòng chơi bóng. Đồ gỗ trong phòng được chạm khắc vừa theo lối Tây phương, vừa theo lối Trung Quốc, hiện đại, tiện lợi và trước bốn khung cửa sổ có treo những tấm rèm nặng. Sau này tôi có cảm giác những tấm rèm đó thường được kéo kín mít, đến nỗi người ta không biết ở bên ngoài là ban ngày hay ban đêm.
Mao nằm trong một chiếc giường gỗ rộng, gấp rưỡi chiếc giường đôi bình thường, do một thợ mộc ở Trung Nam Hải đóng riêng cho ông. Trên giường sách vở chất đống và tôi nhận ra một đầu giường cao hơn đầu kia, nơi Mao đang nằm, khoảng mười xăng-ti-mét. Lý Ẩm Kiều nói rằng giường nghiêng là để đảm bảo an toàn cho Mao không bị lăn khỏi giường. Những năm sau này tôi mới biết rằng, chiếc giường nghiêng đó để những cuộc làm tình của Mao có nhiều khoái cảm hơn là để Mao khỏi lăn xuống đất. Cạnh giường là một chiếc bàn lớn, vừa là bàn ăn, vừa là bàn làm việc. Mao thường ăn trong phòng ngủ. Khi đó ông đã sống ly thân với Giang Thanh và hiếm khi họ ăn chung với nhau.
– Tôi chưa ăn bữa tối- Mao nói như để chào tôi – Tôi muốn trao đổi với đồng chí.
Ông khoác một cái áo choàng buổi sáng, để lộ khoảng ngực trần dưới áo. Tay ông cầm một cuốn lịch sử Trung Quốc cũ bọc vải gai. Mao dặt cuốn sách sang một bên và tôi ngồi xuống cạnh giường, nhấm nháp tách trà mà người vệ sĩ mang đến.
– Có gì mới không? – Mao hỏi.
Tôi bối rối. Có gì mới thì khi đọc báo Nhân dân tôi đã biết. Tôi nhận thấy rằng Mao cũng quan tâm đến độc giả của tờ báo.
– Chẳng hạn mấy ngày qua đồng chí đã trò chuyện với những ai? – Mao nói thêm khi nhận thấy sự lúng túng của tôi – Đồng chí đã trao đổi về những vấn đề gì?

Dalailama_001b
“Có gì mới không?”, từ giờ trở đi ngày nào Mao cũng hỏi như vậy và ông cũng nêu câu hỏi đó đối với các cộng sự của ông. Bằng cách đó, Mao đã thu lượm được thông tin và thường xuyên kiểm tra chúng tôi ông mong muốn chúng tôi kể cho ông nghe về những cuộc nói chuyện và công việc của chúng tôi, tạo điều kiện cho chúng tôi phê bình lẫn nhau. Ông thỏa mãn khi khích được một cộng sự này phản ứng với những cộng sự khác. Ông không chịu đựng nổi sự bí mật. Tôi kể cho ông nghe về cuộc nói chuyện của tôi với Phó Liêm Chương. Ông lắng nghe, rồi kể như chính Phó Liêm Chương đã liên hệ với những người cộng sản trong cuộc Vạn lý trường chinh từ tỉnh Giang Tây đến sở chỉ huy mới ỏ tình Thiểm Tây.
– Trong cuộc tranh đấu của chúng ta chống lại đội quân chống cộng của Quốc dân đảng, năm người của gia đình phó Liêm Chương đã bị hành hình theo lệnh của đảng cộng sản, trong đó có con gái và con dượng của đồng chí ấy. Mặc dù là đảng viên, nhưng họ đã bị buộc tội là đã bí mật liên lạc với quân đội chống cộng của Quốc dân đảng.
Từ Phó Liêm Chương, tôi biết rằng, lúc đó ông đã chăm sóc Mao đang mắc bệnh sốt rét.
Mao nói tiếp:
– Dù Phó không còn là đảng viên cộng sản nữa, nhưng tôi đã hỏi đồng chí ấy có muốn tham gia cuộc Vạn lý trường chinh không. Đồng chí ấy đồng ý. Chúng tôi mang ngựa đến cho đồng chí ấy, nhưng đồng chí ấy không thể cưỡi được và đồng chí ấy đã ngã ngựa và suýt chết đuối. Nhưng đồng chí ấy vẫn lên đường đến Thiểm Tây cùng với chúng tôi. Phó Liêm Chương là một con người dẻo dai. Nhưng đồng chí phải nghe tất cả những gì đồng chí ấy đã nói. Đồng chí không nên nói cho đồng chí ấy biết về sức khỏe của tôi. Nếu tôi cảm thấy không dễ chịu, đồng chí hãy nói với tôi về phương pháp điều trị, chứ không phải nói với đồng chí đó. Nếu tôi đồng ý với cách điều trị đó, tôi sẽ không phê bình đồng chí, thậm chí cả khi đồng chí làm sai. Nếu đồng chí không nói với tôi về phương pháp điều trị của đồng chí, tôi sẽ không thừa nhận đồng chí, ngay cả khi phương pháp đó làm cho tôi khỏi bệnh.



Một mặt tôi vui mừng vì không phải khuyên nhủ Phó Liêm Chương, mặt khác tôi cảm thấy băn khoăn, vì Mao muốn tôi cho ông biết phương pháp điều trị. Thực ra tôi có nên trình bày với ông những thay đổi về sinh lý và bệnh lý của cơ thể trong thời kỳ mắc bệnh hay không? Tôi cần phải giải thích và thuyết phục ông dần dần theo cách điều trị của tôi hay không? Tôi có nên giải thích tất cả cho ông bằng ngôn ngữ dễ hiểu nào đó không?
Mao là người bệnh khó tính.
Bữa ăn được dọn ra. Các món ăn lại được nhúng qua dầu. Mao đã 62 tuổi và cân nặng hơn 80 cân, quá béo so với khổ người ông. Sau này, tôi thường góp ý với ông về cách thức ăn uống. Tôi khuyên ông không nên ăn quá nhiều chất béo, nhưng ông không nghe. Thời còn trẻ, ông đã thích ăn thịt lợn mỡ và ông vẫn giữ thói quen này cho đến khi chết. Bây giờ ông mời tôi ăn món dưa đắng với hạt tiêu đỏ.
– Ngon không? – ông hỏi. Mao cười rung cả cổ – Ai cũng nên nếm một ít vị đắng trong đời, nhất là người như đồng chí.
“Chi ku” hoặc có nghĩa ăn món gì có vị đắng, hoặc có nghĩa là cuộc đời phải chịu nhiều trầm luân, khổ ải và tôi không chắc Mao chỉ nói về món ăn thôi, hay ông chơi chữ ám chỉ rằng, ông coi tôi là đồ hèn, là sản phẩm của cuộc sống thượng lưu. Sau này, tôi khẳng định quan điểm của Mao là mỗi người nên nếm cái “vị đắng”, như con gái Lý Minh và Lí Nạp của ông cũng như nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của đất nước. Phần lớn cán bộ lãnh đạo cao cấp của đảng đều xuất thân từ nông dân và họ đã chiến đấu hàng chục năm ròng để làm nên thắng lợi của cách mạng. Họ cũng đã nếm trải đủ mùi đắng cay. Ý kiến của Mao cho rằng, quyền chức và cuộc sống xa hoa ở chốn đô hội đã làm cho họ nhụt chí. Theo Mao, nếu không thường xuyên vấp váp, thì các vị lãnh đạo cao cấp đã quên béng nước Trung Hoa rồi. Mao chuyển đề tài. Ông nói, nhân loại chịu ơn Trung Hoa với ba sự việc quan trọng: y học Trung Hoa, cuốn tuyển thuyết Hồng Lâu Mộng của Cao Học Tân và trò chơi Mạt chược.
Mạt chược là một trò chơi giải trí phổ biến, gồm 136 quân giống như quân của trò chơi domino, thường dành cho bốn người chơi. Nhiều người Trung Hoa đã nghiện nó. Nhưng gia đình tôi không thích trò chơi may rủi này. Từ hồi nhỏ, tôi coi Mạt chược và thuốc phiện là hai thứ ung nhọt gặm nhấm xã hội Trung Hoa từ trong ra ngoài. Vì vậy tôi không học chơi cái trò đó. Mao trách tôi
– Bây giờ, đồng chí không nén cười trò chơi Mạt chược. Mỗi người chơi không những phải chú ý đến quân chơi của mình, mà còn phải quan tâm đến tất cả, đến những quân khác trong tổng số 136 quân, để tính toán sao cho có thể thắng được. Nếu đồng chí đã làm chủ được trò chơi, thì đồng chí sẽ hiểu được mối quan hệ giữa quy tắc tương đối và quy tắc tuyệt đối.
Trong hành động, Mạt chược là một trò chơi cô tính chiến lược. Mao không chỉ là một nhà chiến lược quan trọng của Trung Quốc, mà còn là một tay chơi Mạt chược cừ khôi. Tôi nghĩ, tài thao lược của ông bắt nguồn từ những bài học trong cuốn sách Tôn Tử binh pháp rất có giá trị trong thời cổ, từ lịch sử của nước Trung Hoa và từ cuốn tiểu thuyết lịch sử Tam quốc diễn nghĩa. Nhưng Mao không chỉ chơi Mạt chược một cách đơn thuần, mà còn để trau dồi trí tuệ của mình. Như sau này tôi kể lại lệ chơi của ông là bạn chơi phải là những cô gái trẻ đẹp. Khi chơi, tay ông vừa cầm quân, ông vừa buông lời ong bớm ve vãn ác em. Dưới gầm bàn, ông dùng chân cọ cọ vào chân hoặc vào đùi các cô gái.
Mao nói tiếp, cuốn Hồng Lâu Mộng đã mô tả cuộc sống xa hoa và đồi bại của xã hội phong kiến. Cuốn tiểu thuyết đã tóm tắt lịch sử của Trung Hoa trong hai nghìn năm qua. Thật ra, tôi không đọc cuốn truyện đó, nhưng tôi thích nó. Tôi mới xem lướt qua cuốn tiểu thuyết này. Nhưng nó không thề làm cho tôi đọc từ đầu cho đến cuối được, mặc dù đó là cuốn tiểu thuyết lớn của Trung Hoa. Lối mô tả cầu kỳ, rắc rối và cách xây dựng những nhân vật khó tin đến nỗi khi cầm cuốn truyện đọc được vài ba trang, tôi đã thấy chán và gập nó lại. Cuốn tiểu thuyết đã kể về sự suy đồi của gia đình phong lưu Gia Bảo Ngọc và nạn tham nhũng, hối lộ trong xã hội phong kiến đã ăn sâu vào gia đình này. Đối với Mao, cuốn tiểu thuyết này là một tài liệu nghiên cứu về nạn tham nhũng, hối lộ và sự suy đồi của chủ nghĩa phọng kiến Trung Hoa. Nhưng đối với nhiều người Trung Hoa, nó lại là một tấn bi kịch tình yêu của Gia Bảo Ngọc. Gia đình của Gia đã phản đối tình yêu của anh với một cô gái trẻ và cấm anh không được kết hôn với cô. Rút cuộc, Gia Bảo Ngọc đã bỏ nhà, quay lưng lại với xã hội, vì anh đã tìm nơi cửa Phật. Nhưng phản kháng ban đầu của anh là lao vào ăn chơi trác táng. Sau này khi quá quen Mao, tôi quan niệm, Mao gần như là hiện thân của nhân vật Gia Bảo Ngọc. Chính tư dinh của ông, “mảnh vườn của lòng từ bi bác ái” lại là phiên bản khá chính xác của biệt thự gia đình Gia Bảo Ngọc. Mao cũng là một tên cướp. Ông thích lôi kéo, quyến rũ những người đàn bà trẻ và ông có vô số phụ nữ quanh ông. Tuy nhiên, ông khác với nhân vật Gia Bảo Ngọc là ông không quy y, nương mình nơi cửa Phật. Mao đã nhắc tôi ngay khi chúng tôi mới quan hệ với nhau:
– Đồng chí đừng suy tôn tôi, tôi không phải là một ông thánh mà cũng chẳng là nhà sư. Tôi không hề thích thế.
Mao quy cho sự gia tăng dân số ở Trung Quốc là do tác dụng của nền y học Trung Hoa. Mặc dù trong suốt bốn nghìn năm qua, chiến tranh và thiên tai thường xuyên xảy ra ở Trung Quốc, nhưng dân số vẫn táng tới năm trăm triệu người. Hay là nền y học Tây phương trở nên lạc hậu? Nền y học Tây phương đã du nhập vào Trung Quốc mới khoảng một trăm năm nay. Nhưng trước đó hàng nghìn năm con người đã quen dùng dược liệu của Trung Quốc vậy thì tại sao vẫn có người phủ nhận nền y học đó?
Mao đã hỏi tôi biết những gì về y học Trung Hoa. Mặc dù, ông cha tôi là những người từng làm nghề thuốc ở Trung Hoa, nhưng tôi đã được đào tạo nghe y theo khôn mẫu của phương Tây, thành ra tôi không mấy quan tâm đến y học cổ truyền. Tuy nhiên, tôi cũng không nghĩ, Trung Hoa đông dân là do nền y học của nó.
mtđ
Tôi trả lời ông, tôi đã đọc một vài cuốn sách cổ về y học Trung Hoa, nhưng không thể hiểu, nhất là đoạn nói đến thuyết ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ. Tôi không lĩnh hội được lý thuyết này. Mao cười. Ông nói:
– Đúng ra thuyết âm dương và thuyết ngũ hành rất rối rắm. Đồng chí sẽ phải dùng những phương pháp cổ truyền của Trung Hoa để chẩn đoán tình trạng sinh lý và bệnh lý của người bệnh. Quan điểm của tôi là nên kết hợp y học Trung Hoa với Tây y. Những bác sỹ phương Tây giàu kinh nghiệm cân phải tham khảo y học Trung Hoa và những bác sỹ Trung Hoa cũng cần phải nghiên cứu sinh lý học, bệnh lý học, khoa học giải phẫu, dịch tế học và những lĩnh vực tương tự. Đồng chí nên tìm cách giải thích những nguyên tắc y học Trung Hoa dưới ánh sáng của khoa học hiện đại. Những cuốn sách y cổ truyền của Trung Quốc cần được chuyển sang ngôn ngữ hiện đại, được chú giải và cắt nghĩa cho sáng tạo. Như vậy, bằng sự liên hệ giữa y học Trung Hoa và y học phương Tây, có thể tạo ra một nền y học mới. Đó là một tiến bộ quan trọng.
Mao dừng một chút rồi nói:
– Mặc dù tôi ủng hộ, khuyến khích nền y học Trung Hoa, nhưng bản thân tôi lại không tin tưởng nên y học đó lắm. Tôi không dùng thuốc men của Trung Quốc. Đồng chí không cảm thấy kỳ quặc chứ?
Tôi cần phải nói thật với ông, vì ông đã công khai ủng hộ nền y học cổ truyền. Kết thúc cuộc trao đổi đêm hôm đó của chúng tôi, Mao nói:
– Mai là ngày lễ mồng l tháng Năm. Đồng chí cùng đi với tôi đến quảng trường Thiên An Môn và xem buổi lễ tiến hành ra sao. Đó là một sự kiện quan trọng đối với đồng chí.
Ông ta hỏi về dứa con trai cả của tôi.
Tôi đáp:
– Cháu đã 5 tuổi.
Mao đề nghị:
– Đồng chí đưa cháu đi nhé.
Tôi đáp:
– Tôi nghĩ không nên. Tất cả các chính trị gia cao cấp đều ở đấy, chẳng ai đưa con cải theo cả. Nếu cháu mải xem quá, cháu sẽ lạc tôi mất.
Mao cười.
– Thôi được. Đồng chí không cần mang cháu theo. Băy giờ đồng chí về nhà ngủ một chút đi.
Tôi về thì đã ba rưỡi sáng. Thường thường tôi đi ngủ lúc mười giờ tối. Lý Liên đang đợi tôi. Tôi kể cho bà ấy nghe về cuộc trao đổi của tôi và Mao.
– Ông ta khỏe và thực sự ông không cần bác sĩ chăm sóc. Tôi có cảm tưởng, ông coi tôi như là người bạn tâm sự hơn là bác sỹ.
Lý Liên khuyên tôi hãy kiên nhẫn chiều theo ý muốn của Chủ tịch.
– Anh vừa mới bắt đầu làm việc cho Chủ tịch, anh đã gây được ấn tượng tối đối với ông. Bây giờ anh không được hấp tấp.
Đó mới chỉ buổi đầu tiên trong vô số buổi nói chuyện với Mao vào ban đêm. Ông sống rất cô độc. Hiếm khi ông gặp Giang Thanh, ông không có bạn. Tinh thần Diên An, tình đồng chí của những người sống sót sau cuộc Vạn lý trường chinh chỉ là một huyền thoại. Thỉnh thoảng Lưu Thiếu Kỳ hoặc Chu Ân Lai gặp Mao vì lý do chính trị, nhưng sự tiếp xúc cũng chỉ giới hạn trong phạm vi những điều cần bàn đến trong những tài liệu mà họ trao đổi thường xuyên với nhau, hoặc trong những cuộc họp của Ban thường vụ Bộ chính trị. Mao triệu tập những cuộc họp này rất thất hường. Lúc thì ở trong phòng Trường sinh, lúc thì ở ngay những nơi mà ông vừa tới. Ban ngày ông giao du với đám vệ sỹ của ông. Họ là những trai làng thất học. Mao ít khi đàm đạo với họ, thường chỉ tán gẫu với họ về các cô người yêu của họ, thậm chí ông còn làm cố vấn tình yêu cho họ và thỉnh thoảng ông giúp họ viết thư tình. Nhưng về đề tài ông thường quan tâm là lịch sử Trung Hoa và về triết học, thì ông không thể trao đổi với họ được.
Vì thế, Mao coi tôi là người trò chuyện của ông. Ông đề nghị tôi viết những bài về lịch sử và triết học để ông đọc và mỗi tuần ông trao đổi với tôi hàng giờ liền. Khi khó ngủ, có lúc ông đọc sách hay triệu tập một cuộc họp, bất kể vào lúc nào. Nhưng thường thường, ông cho gọi một người nào đó đến để trò chuyện với ông và người đó thường là tôi. Chẳng có gì lạ khi ba giờ sáng lại bị Mao lôi ra khỏi giường. Trước những ngày quốc khánh và mồng l tháng Năm, Mao mất ngủ nặng nếu ông phâi tham gia duyệt binh và chào mừng quần chúng ở quảng trường Thiên An Môn. Mặc dù Lý Liên đã ra sức động viên tôi phải nhẫn nại, nhưng bà đã thấy cô ta lầm khi khi nhận ra rằng tôi chỉ vờ chiều Chủ tịch. Mao là một kẻ độc tài mà chúng tôi phải chiều theo mọi sở thích của ông. Mọi cố gắng thực hiện ý nguyện riêng tư đều không thành.(còn tiếp)
Lý Chí Thỏa

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.