AI CÓ VỀ BÊN BẾN SÔNG TƯƠNG ?

DẪN NHẬP :

Quân ti Tương Giang đu
Thi
ếp ti Tương Giang vĩ
T
ương tư bt tương kiến
Đ
ng m Tương Giang th
(Chàng đu sông Tương
Thi
ếp cui sông Tương
Nh
nhau không thy mt
Cùng u
ng nước sông Tương)

Do một tình cờ khi sinh hoạt với người bạn(tù cải tạo ngày xưa, một nhạc sĩ  vĩ cầm và là giáo sư anh ngữ ) và do cái duyên văn nghệ người viết đã được tham dự buổi lễ Tưởng Niệm Cố Nhạc Si Văn Giảng tác giả của  bản  tình ca  “AI VỀ SÔNG TƯƠNG “nỗi tiếng từ thập niên 50 đến tận bây giờ .

Bốn câu thơ cổ thượng dẫn là của nàng Lương Ý  gửi cho người yêu Lý Sinh đời Hậu Chu ở hai đầu sông Tương(bên Tàu) ,yêu nhau mà không gặp được nhau,không thấy nhau nên chỉ gửi nhớ thương qua vần điệu nhờ dòng sông chuyển tãi .Câu chuyện đã trở thành một điển tích trong văn chương cổ điển .

Nhạc Sĩ Văn Giảng đã mượn điển tích nầy để sáng tác bài tình ca bất hủ với bút danh Thông Đạt,cũng để gửi gấm tình riêng của mình (?)nơi Xóm Kim Long mà Vua Thành Thái cũng đã từng si mê :

“Kim Long có gái mỹ miều

Trẩm thương trẩm nhớ,trẩm liều trẩm đi “

.Sông Tương ở đây là Sông Hương xứ Huế là quê hương của nhạc sĩ và cũng là cái gốc của người viết.

Thời bé dại vào những ngày giáp Tết ở Huế,người viết thường lang thang trong chợ hoa ,đi đâu cũng nghe âm thanh và lời ca của nhạc phẩm nầy,.Cho nên mỗi khi nghe lại thường liên tưởng thời niên thiếu của riêng mình .Mới đó mà đã hơn 70 năm của đời người.

Nhưng ai thuộc thế hệ của người viết chắc đêu biết và điều thuộc âm điệu và lời ca của AI VỀ SÔNG TƯƠNG .

Thầy Văn Giảng là người Huế,cùng thế hệ của Phạm Duy,Nguyễn văn Thương Hoàng Quý, Hoàng Giác, Chung Quân.,Văn Cao……Thầy là giáo sư dạy nhạc của các trường trung học phổ thông ở Huế  như Quốc Học,Hàm Nghi, Nguyễn Tri Phương và tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc của Miền Trung và cả Saigon.

Thầy không những được biết đến với một số bản nhạc tình mà nỗi bật với AI VỀ SÔNG TƯƠNG kể trên mà còn là tác giả của nhiều bản hùng ca :Lục Quân Việt Nam,Hải Quân Việt Nam,Không Quân Việt Nam ….với những nốt nhạc và lời lẻ hùng tráng nhưng không sắt máu như của Văn Cao mà thế hệ người viết ai cũng biết .

Thầy là một Phật Tử thuần thành.Cuộc đời của thầy đã chưng kiến cảnh can qua của Phật Giáo (Miền Trung) kể cả thời kỳ mạt pháp.Nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương Tôi ký tên Nguyên Thông đã được sáng tác trong giai đoạn đó với một tấm lòng mộ đạo chứ không phải theo xu hướng chính trị nhất thời khoác áo tôn giáo .Người viết nghĩ như vậy .Bởi hơn ai hết thầy đã hiểu cái lẽ VÔ THƯỜNG trong giáo ly và triết lý của Nhà Phật.

Tuy không là học trò trực tiếp của thầy qua các giờ học âm nhạc thời xa xưa nhưng người viết vẫn ngưỡng mộ cái tâm,tấm lòng và tài năng của thầy và cho đén giờ phút nầy vẫn nhớ Ai Về Sông Tương và tiếc rằng những bản hùng ca đã mai một,không được hát trở lại .Có lẽ vì “tính chất ngụy ” mà người đời đã gán cho chăng ?

Xin giới thiệu  bài viết dưới đây của Nhà văn ,nhà thơ,nhà nghiên cứu Trần Kiêm Đoàn, một học trò cũ của thầy Văn Giảng tại Trường THPT  cấp 2 (Cơ sở theo lối gọi bây giờ) Hàm Nghi Huế ,về người thầy của mình và là một nhạc sĩ của quần chúng .

Thầy đã ra đi theo quy luật của đất trời nhưng thầy vẫn hiện diện trên Sông Tương(hay Sông Hương) của những người yêu nhau hôm nay.

Tư Chơi Cầu Dakbla Kontum

104_2817

Những “ông bà ” học trò cũ đang đồng ca nhạc của Thầy(Đêm Mê Linh ) để tưởng nhớ

V CHNGNGƯỜI V SÔNG TƯƠNG” ĐU QUA ĐI

văn giảng

Thầy Ngô Văn Giảng vừa tạ thế tại Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, Huế. Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Đức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường.
Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu : “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…” Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lập nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Đây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Đêm Mê Linh, Qua Đèo, Nhảy Lửa…
Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi. Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả là Thông Đạt thì ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu 104_2820

Tư Chơi trong buổi lễ tưởng niệm

Hai niên khóa học với nhạc sĩ Văn Giảng, tôi thích học nhạc thì ít mà mê Thầy kể chuyện thì nhiều. Cứ mỗi cuối giờ, Thầy có một câu chuyện kể về các giai thoại âm nhạc. Thích nhất là những chuyện thâm cung bí sử của những nghệ sĩ âm nhạc tài hoa. Chẳng hạn như bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác, Thầy xướng âm lên và phân tích cho chúng tôi nghe rằng, tiết điệu của bài ca có một nhịp điệu trãi dài xa vắng và âm hưởng thương nhớ quặn lòng “rất Tây Phương” vì đây là bản nhạc do một người lính Đức trong đội quân viễn chinh của Pháp viết lên giai điệu. Nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ soạn ca từ… Hoặc như bản nhạc Trầm Hương Đốt của Bửu Bác, xuất xứ là bài Hải Triều Âm. Đây là một trong những bản nhạc nghi lễ đầu tiên dùng trong sinh hoạt chùa viện đã bứt phá từ giai điệu ngũ âm “Đăng Đàn Cung” để tiến lên bát cung của phương Tây. Bởi vậy mà ảnh hưởng âm điệu “thánh ca nhà thờ” thể hiện rất rõ trong giai điệu của bản nhạc.


Nhưng thú vị hơn cả là lịch sử bản nhạc Ai Về Sông Tương. Thầy kể rằng, thời trai trẻ, Thầy ở Thành Nội và yêu một cô gái ở Kim Long – Kim Long có gái mỹ miều; trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi… mà – nhưng duyên không thành vì gia đình nho phong của cô bé không có cái nhìn thiện cảm với đời nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ trong ngành âm nhạc, xướng ca… Thế là chia tay và cô bé đi lấy chồng !
Rồi một hôm, Thầy vào rạp Xi-nê Tân Tân, gần cầu Trường Tiền bên bờ Bắc sông Hương để coi phim “Bé Nhà Trời” (Les enfants du paradis). Ngay trước mắt Thầy, ờ hàng ghế trước có một cô Bé tóc dài. Tuy nhìn không rõ mặt nhưng từ dáng dấp đến hương tóc thoang thoảng mùi hoa Ngâu của người thiếu nữ đã làm sống lại hình ảnh người tình Kim Long.
Thầy bị xúc động đến nỗi không thể còn ngồi lại lâu hơn trong rạp chiếu bóng để xem phim, nên vội vàng ra khỏi rạp. Thầy cỡi chiếc xe đạp Dura Mercier của Thầy và đạp xe dọc theo bờ sông Hương để vô cửa Thượng Tứ vào nhà ở Thành Nội. Thoáng chốc dòng sông Hương hiện ra như là dòng sông Tương chia biệt trong truyện tình cổ thư Trung Quốc. Thầy vừa đến nhà là dựng ngay chiếc xe đạp ngoài hiên, đi nhanh vào nhà và vội vã sáng tác bản nhạc bằng tất cả sự hoài niệm và háo hức nghệ thuật với sự chấn động dị thường như phép lạ hóa thân. Bản nhạc Ai Về Sông Tương được viết ra trong vòng mười lăm phút !

Sau đó, Thầy bí mật ký tên là Thông Đạt và chép một bản gởi ra đài phát thanh toàn quốc là đài Pháp Á ở Hà Nội. Ngay sau đó, Mạnh Phát vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ đã hát bản Ai Về Sông Tương lần đầu trên đài Pháp Á Hà Nội. Bản nhạc sáng tác năm 1949 đã nhanh chóng nổi tiếng trong toàn cả nước. Đã trải qua hơn 60 năm, những mối tình đã cũ, những hẹn hò thuở răng trắng tóc xanh đã thành “răng long đầu bạc”. Nhưng Ai Về Sông Tương vẫn mới như thời gian là nước chảy qua cầu, vẫn còn là tiếng lòng tình tự của những đôi tình nhân ước hẹn không thành. Bản nhạc với một giai điệu thướt tha lãng mạn, lời lẽ đậm nét hoài niệm trữ tình làm dậy lên nguồn tình cảm sướt mướt, mượt mà mà rất “sang” ấy như một dòng suối tươi tắn, mát dịu trong một hoàn cảnh tạm hồi sinh sau cuộc chiến :
Nghe nhạc phẩm “Ai về sông Tương” do Anh Khoa trình bày :

Ai có v bên bến sông Tương
Nh
n người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm m
i tơ vương
Tháng v
i ngày mơ nhum đau thương
Tâm h
n mơ bóng em luôn
Mong vài l
i em ngp hương…
Cũng theo lời Thầy vui vui kể chuyện rằng, Mạnh Phát, là bạn thân của Văn Giảng, đã nhờ Văn Giảng đến nhà ấn hành tân nhạc gần như độc nhất thời bấy giờ là nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế do ông Tăng Duyệt làm giám Đốc để hỏi cho ra Thông Đạt là ai ngay sau khi bản nhạc phát trên đài Pháp Á. Nhưng mãi đến ba tháng sau thì tông tích của Thông Đạt mới được tiết lộ. “Mạnh Phát vô Huế chơi khi biết tui là Thông Đạt, hắn đấm lưng tui thùi thụi như rứa thì thôi !” Thầy Văn Giảng nói.
Một lần trong giờ học nhạc, trò Nguyễn Xuân Huế là tay đọc tiểu thuyết đệ nhất trong lớp hỏi Thầy : “Thưa Thầy, tại sao mình có sông Hương, mình cũng có Hương giang đầu, Hương giang vỹ mà Thầy lại phải vay mượn sông Tương của Tàu như rứa ạ ?”. Thầy trả lời, đại khái là tại sông Hương chưa có chuyện tình nào nổi tiếng trong tình sử như sông Tương.
Tương Giang là một con sông ở Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Duyên Hải, chảy qua Hồ Nam dài hơn hai ngàn dặm. Còn ý “ai về sông Tương” của Thầy trong bản nhạc là bắt nguồn từ cảm hứng của bốn câu thơ tình sử trích từ khúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý, đời Hậu Chu. Nàng và Lý Sinh yêu nhau say đắm nhưng phải chia tay. Nàng làm thơ mong gửi gấm nguồn tâm sự đau khổ khi phải xa cách người yêu :
Quân ti Tương Giang đu
Thi
ếp ti Tương Giang vĩ
T
ương tư bt tương kiến
Đ
ng m Tương Giang th
(Chàng đu sông Tương
Thi
ếp cui sông Tương
Nh
nhau không thy mt
Cùng u
ng nước sông Tương)
Trong những ngày phong trào đấu tranh Phật giáo xẩy ra tại Huế năm 1963, có lần tôi gặp Thầy trên con đò Thừa Phủ, Thầy nói là lên chùa Từ Đàm nhưng đường sá trở ngại phải đi đò sang sông rồi đi bộ lên chùa. Khi đò ra giữa sông tôi nghịch ngợm hỏi Thầy : “Thưa Thầy, đã có ai về sông Tương chưa ạ ?” Thầy cũng cười đáp lại : “Đối với tôi thì sông Tương là sông Hương. Tôi chỉ mong cuối đời về lại con sông này…” Ngày đó và bây giờ, tôi tự hiểu khái niệm “cuối đời về lại” của Thầy là linh khí của con người luân lưu sống giữa hồn thiêng sông núi. Nếu vậy, thì hôm nay Thầy đã về sông Tương.


Đó là lần cuối tôi gặp Thầy Văn Giảng. Nhưng sau đó không lâu, tôi lại được “gặp” Thầy qua một tác phẩm mang tính chất đạo ca của khách hành hương mà tôi đã gặp trên chuyến đò Thừa Phủ : Nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương Tôi. Lần nầy Thầy để tên tác giả là Nguyên Thông. Bản nhạc tuy được liệt vào thể loại nhạc tôn giáo nhưng cả giai điệu lẫn ca từ đã vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn của văn hóa chùa viện. Cảm quan nghệ thuật sáng tạo của người nhạc sĩ tài hoa đã dung hóa được tính chất tráng liệt của hùng ca như Thúc Quân, Lục Quân Việt Nam, làn điệu mượt mà lãng mạn của tình ca như Ai Về Sông Tương, Ai Đưa Con Sáo Sang Sông và biểu tượng thiêng liêng, siêu thoát của đạo ca như Mừng Đản Sanh, Ca Tỳ La Vệ, Từ Đàm Quê Hương Tôi :


Quê hương tôi min Trung
S
m hôm chuông chùa nh rung
Ti
ếng muôn đi hn t tiên kiêu hùng
Ôi uy nghiêm bóng chùa T
Đàm
N
ơi yêu thương phát ngun đo vàng
Qua bao giông t
chùa T Đàm tôi vn còn…
Những nhạc sĩ tài hoa của nền tân cổ nhạc Việt Nam thuộc thế hệ Chiến Tranh Việt Nam lần lượt ra đi. Nghệ thuật và người nghệ sĩ đến với đời và ra đi không bằng tấm vé một chiều. Tác phẩm để lại cho thế hệ kế thừa sẽ làm cho con đường sáng tạo nghệ thuật rộn ràng và phong quang hơn. Với hơn 50 tác phẩm âm nhạc phong phú giá trị nghệ thuật để lại cho đời, nhạc sĩ Văn Giảng đã cống hiến phần tinh hoa lớn nhất của đời mình vì lợi lạc của tha nhân mà các nhà tu Phật giáo thường gọi là “công hạnh viên thành”. Thế hệ đàn em, học trò như chúng tôi có điểm tựa tinh thần đáng tự hào và trân trọng trong giờ phút tưởng niệm và bái biệt Thầy.

TRẦN KIÊM ĐOÀN

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.