Đọc Truyện “XÓM CỤT ” (phần 2 và 3) tác giả ĐỖ THÀNH

XÓM CỤT

Đỗ Thành

115_2697

Phần 2

Gia đình thương binh về hưu vào Nam khoảng cuối 78 đầu 79. Vỏn vẹn chỉ có hai người, tóc đều lớm chớm bạc. Dạo ấy chẳng ai dám hỏi han vì sợ đụng chạm vào những đau thương còn quá mới mẻ. Vả chăng, tuy là cùng đồng bào, nhưng dường như giữa hai miền có một hố sâu ngăn cách. Đối với những người từng cầm súng đối đầu nơi hai giới tuyến đã đành, ngay người dân trơn cũng chẳng ai dám đá động hoặc mong trở thành thân quen với nhau cả.

Một đằng mừng chiến thắng ngất trời nên xem ai cũng là thù hơn bạn, tuy không đụng trận nhau, song là dân con của vùng đối đầu thì cũng là khác chí hướng. Người miền Nam an phận ngậm ngùi, chôn thật sâu nỗi đau vào tâm khảm, còn các ông bà mới vào thì vênh vang, hung hãn.

Hôm vợ chồng ấy đến, loáng thoáng có ủy ban đến chào, hứa hẹn sẽ bố trí cho ông bà một chỗ khác tươm tất hơn. Lời hứa nào cũng hoành tráng, vậy mà trải mấy lần đổi thay, từ chủ tịch phường đến trưởng ban thương binh xã hội, thì ông này đùn bà kia, lâu thành trớt quớt.

Dăm thì mười họa, hàng xóm có nghe hai ông bà hục hặc nhau vì chuyện “ trâu chậm uống nước đục “. Dân trong Nam nghe thì nghe mà tuyệt nhiên không ý kiến vì chẳng được lợi lộc gì mà có khi còn bị mắng mỏ đau đầu.

Bà vợ chừng như tập kết dạo 54 nên tuy đã lai miền Bắc, mà tính Trương Phi ruột ngựa chưa bỏ được. Cái máu trong Nam phang ngang bổ củi quen, tức là phun rào rào.

Chuyện chẳng có gì, tháng tháng ông chồng lễ mễ xách bao xách bị lên ủy ban để nhận phần trợ cấp thương binh. Bữa nào nhận được quà cáp ngay, dù chỉ là mì sợi hay bột sắn thì êm êm, còn thấy ông về nhăn nhó như cái tã rách là bà oang oang lên liền : trời ơi, làm ăn gì lạ, cả tháng dài chỉ có tí sắn, tí khoai lo không xong, hành người què đi lên đi xuống thì coi sao được đây.

Bà được lý lịch tốt có khác, chẳng kiềng ai, chẳng nể ai, không lén lút, không e dè, muốn nói cứ toang toang đứng trước cửa mà kể. Ông chồng vốn hiền lành vội chạy ra can vợ thì bị nói mẽ nói hành : phải, ông hiền thế nên mới bị người ta ngồi lên đầu lên cổ mãi thôi.

Tội nghiệp, vài ngày dăm bữa lại thấy ông lóc cóc lên phường, khi thì lĩnh lương hưu, khi thì nhận phụ phẩm, ôm đùm ôm nắm về đến nơi, thở ì ạch như kéo bễ phì phò. Bà vợ có vẻ hậm hực nên nói ra nói vào : tôi đã bảo mà, ngay khi vừa chiến thắng xong, tôi giục ông tình nguyện vào Nam ngay đi, ông dần dà hẹn mãi. Đến khi người ta chia nhau sạch chỗ tốt thì ông lò dò vào, còn gì nữa mà phân với bổ. Bạn bè ông nhanh chân, nhanh cẳng giờ họ có chỗ, có nơi, nhìn ông cổ hủ mấy ai còn bò tới.

Ông nghe mà cay vì quả thực sự đời là thế. Ngày mới vào, bất chợt cụng đầu nhau với các tay chiến đấu ngày xưa, trông họ ông chẳng nhận ra. Tuy họ vẫn xà cột, dép râu, đi đâu cũng phe phẩy chiếc quạt, song họ có dáng lắm. Hỏi ra thì không giám đốc này cũng thủ trưởng nọ, mèng mèng thì cũng ban tổ chức hay trưởng phòng, còn ông thì trắng tay vẫn hoàn tay trắng.

Nhớ lại dạo xưa, cùng trú bom B-52 với nhau, đồng chí xem nhau hơn ruột thịt. Thủ thỉ thù thì một mai hòa bình thì vẫn giữ mãi thâm giao vĩnh viễn. Hồi mới vào, họ có ghé thăm, nhưng chỉ một lần rồi bẵng vì họ ngượng với chỗ ăn chỗ ở của bạn. Được thể, bà vợ nói kháy ông : ngày xưa đồng chí với nhau, ngày nay thất thế hơn nhau đồng tiền. Ông nghe mà cay đắng cho tình đời.

Lại nói về đường con cái. Cũng từ nơi miệng của bà vợ những lúc cằn nhằn cửi nhửi ông, người ta mới rõ gia đình ông có hai cậu quí tử. Lớn lên gặp thời chinh chiến, cả hai đều trúng nghĩa vụ quân sự, cậu lớn thì trúng hẳn, còn cậu em thì hăng quá thiếu cân, phải lận đá vào người cho đủ trọng lượng, chứ không bị đánh hỏng thì mất mặt với các bạn nữ mất.

Chiến tranh vốn vô tình. Gia đình hai thế hệ cũng chung cầm súng, may mà còn thuộc hẳn một phe. Thế nhưng “ thời chiến chinh mấy người đi trở lại (HL) “ nên cậu nhớn ngỏm đâu tận bên Lào khi đi làm nghĩa vụ quốc tế, còn cậu bé đến giờ này vẫn không biết ở đâu.

Vì không có chứng từ ghi rõ tình trạng, nên dù bao năm biền biệt, giờ đã có hòa bình, đến cái bằng liệt sĩ vẫn còn lửng lơ, nên gia đình ông tuy hi sinh hai mà chỉ được chấp nhận một. Bà thì tức lồng tức lộn, còn ông thì xí xóa cho xong. Vợ chồng cảu nhảu càu nhàu : mình đã có một liệt sĩ rồi còn gì, người ta con mất biệt mà chẳng có danh hiệu nào đã sao.

Lâu dần, sống gần cạnh nhau quen nước quen cái, vả lại ánh huy hoàng nào rồi cũng sẽ nhạt phai nên bà con hàng xóm dần dà mới nghe thủng ra chuyện thầm kín trong nhà. Thì ra ở cả hai vùng chiến tuyến, nỗi đau đều ngang nhau cả, cho dù cái chết có được bọc bằng màu vàng hay màu đỏ.

Từ sự lân la này, các bà mới thủ thỉ cho nhau : ấy dạo đi Nam nghe nói trong này khổ quá, chúng tôi phải cụ bị tất bật, sợ vào thiếu cái dùng. Có vào có biết rồi mới bàng hoàng, người trong Nam khổ đâu chưa thấy chớ họ nhởn nhơ, xem mọi việc như pha. Bà vợ nghĩ buồn cười khi chăm chút đem lỉnh kỉnh mấy món phân phối vào tặng nhà, ai dè họ còn biếu lại ông bà những thứ bền chắc nữa. Họ than thở : ấy là chúng em đã bán xới bớt, chứ không anh chị còn nhận được nhiều hơn.

Cũng vì vai vế là cán bộ, dù đã về hưu, nên bề gì ông bà cũng được phần ưu đãi vì thuộc hạng gia đình có công. Ngày nhận nhà, ủy ban đã thao thao xác định với mọi người phần đất ao ở cuối đáy phễu là thuộc gia đình ông bà. Do đó, bà vợ gieo ít hột rau muống làm món phụ gia, nuôi lợn, hay gom bó đem chợ bán.

Gia đình ông chạy chợ thì chẳng cần, anh sửa xe cũng gởi gọn cuộc đời vào các món bán rao, chỉ còn gia đình tôi thì im thin thít vì có nói chẳng ai nghe. Cái ao tí tẹo mà rau muống mọc tràn, có lẽ nhờ cái chỗ tiêu lộ thiên cất lù lù phía trên, từ trong xóm bước ra theo tấm ván giữ bằng mấy cái cọc, khi đi lủng la lủng liểng.

Cả mấy gia đình chỉ trông vào một chỗ giải tỏa nên sáng sáng lắm khi chờ nhau đến sốt ruột. Cứ thấy có tờ báo che đầu là biết nhà cầu đang có người, ai cũng phải lơ huơ chờ ở đầu miếng ván giáp mặt đất. Vì tế nhị họ không dám ra xa hơn, e mặt nước im im tránh sao khỏi phải thấy những gì không muốn thấy.

Mùa nắng đã khổ, ngày mưa lại khổ hơn, đi xong cái bụng thì ướt hơn chuột lột, đàn ông còn đỡ, phụ nữ đàn bà cứ phải khép nép vì những của trời cho đều lồ lộ ra hết cả. Từ ngày hòa bình đến giờ, lót liếc chẳng ai còn dùng nữa, áo quần tuyền một màu đen, nhưng bản năng phụ nữ vẫn e dè khi chiếc áo ướt thít chặt vào lộm cộm khó chịu.

Gia đình ông thương binh ưu tiên tuyệt đối. Ai dù đau bụng, đau bão mà nhác thấy ông hoặc bà là phải cố nín nhường. Thản hoặc có đau đến chết thì lo chạy về nhà tùm hum che chắn, lót giấy bậy ra, rồi sau đem quẳng xuống ao làm phân bón. Ai cũng xem như định mệnh an bài, chỉ riêng nhà bán máy cục cựa, hăm he tìm nhà chỗ khác. Ấy thế mà bao năm rồi vẫn không thấy rục rịch di chuyển. Có lẽ tại giá nhà cao hay họ muốn tích vốn mở rộng thêm chỗ bán mà dây dưa, lần lựa chăng ?.

Tất cả những điều này tôi cóp nhặt được khi từ trường đại học tù thả ra và vợ chồng đêm nằm tỉ tê nhau nghe để đỡ buồn. Thời buổi lạ kỳ, vào trại làm chết cha, chúng tôi vẫn bị rêu rao là chây lười lao động. Về nhà đi họp nghe mắng mỏ chế độ xưa chuyên bóc lột nhân dân, bây giờ ông bà thương binh nhờ vả vợ tôi cắt rau, cho lợn ăn, rửa chuồng, tắm táp heo thì bảo là lân bang giúp nhau tiến bộ, thực hiện văn hóa mới. Lắm khi tôi mù tịt, muốn điên cái đầu, chẳng hiểu phải trái thế nào.

Ngay khi làm lao động ở phường cũng vậy, các bố lăng xăng rồi lảng ngay, vậy mà cứ đổ tội ngày xưa bọn tôi chỉ tay năm ngón, hành hạ lao động mới oan.

 Phần 3

 

Mỗi lần nghe tiếng hát nhừa nhựa điệu vọng cổ vang lên từ ngôi nhà cạnh căn hộ của đôi vợ chồng thương binh về hưu là người ta biết ngay anh thợ sửa xe đã trở về. Tuy không nói ra song ai cũng biết tiếng hát đó chỉ cất lên khi chiều đến vì suốt ngày anh lo bán mặt cho nắng nóng ngoài đường để kiếm tiền độ nhật.

 

Bài hát mà anh sửa xe thường ỉ ê chẳng bao giờ thay đổi, quanh quẩn chỉ là lời trách cứ một cô gái nào đó bỏ tình yêu ra đi. Người lạc quan thì cho anh hát khơi khơi chứ không ngụ ý gì hết, còn riêng tôi, ngay từ lần đầu, tôi đã mường tượng ra nỗi sầu thầm kín của anh vì bị người yêu bỏ.

 

Tôi đem điều này kể với vợ, cô nàng cho là tôi vớ vẩn không đâu. Thật vậy, những ngày đi tù, tôi đã từng nghe nhiều câu vọng cổ như thế này và thường đó là lúc họ nhớ về vợ. Họ hát không hay, nhưng thích hát, cố hát, hát cho vơi bớt nỗi lòng nhung nhớ. Anh nào vô phúc vợ ngỏn ngoẻn bỏ đi lấy người khác thì càng ai oán vô cùng. Có đời thủa nào, người đàn bà đã từng sống chung với nhau bằng nhiều mặt con sinh ra, rồi bỗng dưng nhẹ dạ, muốn được nhàn thân, đành tâm đi lấy người nhốt chồng mình như thế.

 

Cho nên nghe giọng anh thợ, tôi biết anh đang đau lắm. Anh nghẹn ngào, nức nở, rỉ rên : Bạch Thu Hà, em ơi, cớ sao em đành đoạn bỏ anh mà đi theo tiếng gọi ái tình.. Hẳn nhiên, anh hát không thể sánh với kép trên sân khấu, nhưng về nỗi đau thì chắc lậm hơn. Anh hát chẳng cần để được ai khen, ai nghe, mà chỉ muốn cất lên tiếng lòng thổn thức. Mấy nhóc nhà tôi nghe giọng bơ rỉ của anh đều chọc : hát dở òm mà ông ổng hát hoài.

 

Tôi muốn nạt tụi nó mà thấy chính mình cũng vô duyên khi đem chuyện ở đâu về nhà hục hặc, nhưng tôi không thể bỏ lơ tâm trạng của anh vì tôi biết trong đời không gì đau hơn bị bồ đá.

 

Bởi mang mang tâm sự như vậy, nên có một lần, quanh quẩn trong nhà hoài cũng muốn cuồng chân, tôi mò ra khỏi xóm để xem sự đời cho biết. Đó là lần tôi biết chỗ làm việc của anh.

 

Anh thợ đang vắng khách, cái ống bơm có đế gỗ để dựa một bên, thùng đồ nghề được kẹp làm chỗ gác chân cho đỡ mỏi, thau nước vá bốc hơi nóng ngút ngàn. Cái nắng tháng năm đến chó mèo cũng phải lè lưỡi làm anh ngất ngư mệt mỏi. Vậy mà nhác trông thấy tôi, anh vội buông mảnh báo còn một tẹo trên tay và hớn hở thưa : chào ông thầy. Tôi hơi giựt mình, cố vận dụng trí nhớ xem có lần nào anh cùng sống đời lính tráng với tôi chưa, nhưng tuyệt nhiên tìm không ra.

 

Còn anh thì rụt rè nói thêm : em biết ông thầy mới được tha về, đối với em dù không cùng binh chủng hay đơn vị, ai em cũng đều xem là bậc thầy cả. Nói xong anh thở dài như cám cảnh cho thời cơ lỡ vận của cả đám. Tôi khuyên anh đừng tôn xưng gọi tôi như thế vì tất cả đã hết rồi, anh hùng hổ nói với tôi : chúng ta dù thua, nhưng vai vế vẫn còn nguyên vẹn. Tại sao ông thầy cấm cản em.

 

Tôi bùi ngùi cảm động. Sực nhớ lại hôm vừa hớt hơ hớt hải từ tàu lửa xuống, bất ngờ tôi cũng đã gặp lại một đàn em ngày xưa. Anh bạn mừng tíu tít, ôm chặt tôi rơm rớm nước mắt, kéo tôi vào cửa hàng giải khát quốc doanh cạnh đó, gọi đãi cho tôi ly cà phê đầu tiên khi được tự do.

 

Tôi uống vào rất đắng, nhưng lại thấy tình đời mở rộng. Anh bạn cho biết đang chạy xe lam, bi ba bi bô với tôi đủ thứ chuyện, còn hứa sẽ đưa về tận nhà. Tôi đang nôn nóng gặp vợ con mà không dứt ra được. Nỗi ngại ngùng bị chụp mũ lè phè như lời bọn coi tù hăm dọa làm tôi kém tự nhiên, trong khi xung quanh mấy anh xe lam, ba gác và các chị hàng buôn toang toang chòng ghẹo mấy tay bộ đội ngồi gần.

 

Tôi nghe có phần hoảng vì những gì được nhồi nhét trong trại và bên ngoài cách xa nhau trời vực. Người miền Nam bão hòa dần với đổi thay nên họ chẳng còn e sợ nữa. Họ nói với nhau mà thực tâm nhắm vào những người khác cung cách của họ. Tôi chỉ muốn chóng xong để còn về, vậy mà cũng phải ngồi nán đến hơn nửa tiếng.

 

Bây giờ ngồi với anh bạn láng giềng, tôi lại thấy nao nao. Chèn ơi, tình nghĩa đậm đà đến vậy sao. Hèn chi người ta bảo cái được, cái thua không phải tính bằng sự chiếm được đất đai mà là tính bằng sự chiếm được lòng người. Phe kia đã tự hào làm chủ mảnh đất này từ mấy năm qua rồi nhưng chắc chắn là họ lạ lẫm vô cùng tại sao lòng người vẫn thờ ơ với họ.

 

Cái nắng tháng 5 rầu rầu nát nhão mà hai chúng tôi ngồi đấu láo sao vẫn thấy qua mau. Tôi đề nghị với anh đừng khép nép xem nhau cách biệt nữa, thời thế đổi thay rồi nên đối xử với nhau như anh em vốn đã quá quí. Anh bạn thợ không chịu. Một hai anh bảo với tôi : ông thầy nói vậy sao được, thượng cấp của ta đang tâm bỏ trốn, chứ ta nào có bỏ nhau. Bây giờ ở trong nước chỉ còn một dúm thầy trò mình, đâu có thể xô bồ coi nhau bằng vai phải lứa như họ. Với chế độ, cha con có thể xem nhau bình đẳng vì cùng là đồng chí, đồng rận của nhau; còn thầy trò ta đâu có vậy.

 

Anh ân cần mời tôi ăn món này, uống thứ kia. Một phần tôi không muốn chịu ơn khi vừa bén thân quen, một phần lại ngại mang tiếng bù khú, lỡ gặp tay khu vực nghi ngờ hai bên bàn bạc đại sự. Tôi đem điều này nói với anh, người thợ sửa xe tủm tỉm cười : đời sống tù biến thiên ông thầy tàn nhẫn quá nên thầy đâm dè dặt. Họ hù vậy thôi để thầy đừng tơ hào mưu sự, còn tình nghĩa đãi nhau họ chẳng quan tâm đâu.

 

Và như chợt nhớ ra, anh ta chêm : tay khu vực này em biết rành mà ông thầy. Hắn ba hoa chích chòe, chớ suốt ngày còn lo thu hụi chết mấy tay biên số đề, hoặc la cà ăn nhậu bắt những tay phe phẩy trả tiền. Mấy chỗ đó có của, hắn mới bò vào, chứ còn thầy giờ như cái tã rách, hắn không để ý đến đâu.

 

Rồi như cất lời tâm sự, anh ghé lại gần tôi hỏi : mà sao hồi đó ông thầy không tìm đường dọt. Ở lại chi cho lận đận đi tù. Em là cấp thấp mà nếu dọt được em cũng dọt, sống sao nổi với mấy chả, thầy ơi. Tôi nghe mà thấy xót xa, biết trách ai nếu chẳng tự trách mình. Tôi cũng thủ thỉ với anh : có lẽ tại số bọn mình mạt rệp nên cùng chui vào rọ như nhau. Và để đánh tan nỗi tủi thân đè nặng trùng trùng, tôi gạt sang chuyện khác : bề gì cũng lỡ rồi, quên đi.

 

Anh thợ im im một lúc như để tức tủi lắng dần vào tâm khảm, rồi anh lại thủng thẳng đề nghị với tôi : ông thầy ở nhà buồn thì ra đây cùng làm với em. Thầy trò giúp nhau lúc cùng quẫn mới thảo, thầy chỉ lo việc bơm bánh xe cho khách, còn những việc cực nhọc như lộn xên, vá ruột xe, thay nhông để em. Tôi nghe càng da diết buồn và mủi lòng lẫn lộn. Tôi chợt nhớ đến câu ví của mấy bà đi buôn gặp tôi trên chuyến tàu từ ngoài Bắc trở về. Chính các bà, các cô gom góp lo cho tôi phần tiền vé và nuôi ăn suốt mấy ngày đêm cà tịch cà tang trên chuyến tàu chợ. Nỗi ngậm ngùi dằng dặc trên nét mặt họ, có chị chồng vẫn chưa về, ngùi ngùi nói với tôi : giận thì giận mà thương vẫn thương. Hôm đó nước mắt tôi đã ứa ra theo từng tiếng rít xé gió của con tàu đang lầm lũi đi ngày đêm.

 

Tôi chợt đề cập bài vọng cổ với anh. Không hề dấu diếm, anh nhận ngay đó là lời anh gián tiếp than thở vì xa người yêu ngày trước. Tôi rụt rè hỏi liệu anh có biết giờ cô ấy ở đâu chăng. Anh ngậm ngùi một lúc rồi nói : người thì nói cô ấy đã đi thoát ngay từ tháng 4-75, kẻ lại nói cô ấy về quê mà không rõ đi đâu.

 

Câu cuối tôi nghe từ miệng anh kèm với một tiếng thở dài : từ đơn vị bò về, em nghe nói cô ta đang ở tại một trại, lần dò tìm đến thì cô lại dời đi và không ai biết ra sao. Câu nói buông lửng mà như một nhát dao lụi từ từ vào trái tim rỏ máu của những người đau khổ. Tôi mang theo cùng những bước chân nặng chịch về nhà và tự dưng thấy buổi chiều nhạt nhẽo làm sao…(còn tiếp)

 

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.