Nhạc sĩ vĩ cầm Khuyết tật số 1 thế giới ITZAK PERLMAN

Itzhak Perlman-

người đưa âm nhạc vượt trên mọi kỹ thuật, đó là trái tim

 Itzak Perlman4

Itzhak Perlman- Một trong những nghệ sĩ violon vĩ đại nhất của thời đại chúng ta. Itzhak Perlman là một nhà ngoại giao vô giá cho sự xích lại gần nhau giữa những tâm hồn con người. Ông đã xuất sắc vượt lên trên bệnh bại liệt chân để trở thành một nghệ sĩ thiên tài với lòng quả cảm và tâm hồn đậm chất con người. Hình ảnh về ông là nguồn cảm xúc lớn cho tất cả những ai từng được xem ông biểu biễn.

Itzhak Perlman sinh ngày 31 tháng 8 năm 1945 ở Tel Aviv, Israel. Là con trai của một thợ cắt tóc nhưng cậu đã được cầm trên tay cây đàn violin từ khi còn rất nhỏ. Itzhak đã được học những bài học đầu tiên ở Viện Hàn lâm Âm nhạc Tel Aviv. Người ta đã nhận ra tố chất âm nhạc của Itzhak và đã gửi Itzhak sang Mỹ tham gia vào đoàn các Ngôi sao nghệ thuật (Caravan of Stars) của Ed Sullivan, một đoàn biểu diễn âm nhạc lưu động dành cho những đứa trẻ tài năng. Năm ấy Itzhak chỉ mới 13 tuổi nhưng đã chơi xuất sắc tác phẩm “Flight of the bumble bee” của Nicolai Rimsky-Korsakov cũng như trong chương 1 bản Violin concerto giọng Son thứ, Op. 64 của Felix Mendelsshohn. Sau khi kết thúc chuyến lưu diễn khá mệt mỏi này, cậu đã quyết định ở lại Mỹ để nâng cao khả năng biểu diễn violin của mình. Itzhak đã nhanh chóng giành được học bổng của Trường Juilliard và Quỹ Hoa Kỳ – Israel để được học với nhà sư phạm danh tiếng Ivan Galamian (và sau này là Dorothy Delay).

“Mọi khúc nhạc đối với tôi đều có một mục đích. Nó giống như là nói chuyện. Nếu bạn nói chuyện với một mục đích đặc biệt, người ta sẽ nghe bạn. Nhưng nếu bạn đọc thuộc lòng như vẹt, nó sẽ không còn ý nghĩa nữa.” –

Itzhak Perlman

USA - Itzhak Perlman Performs in Boca Raton

Perlman có buổi biểu diễn chính thức đầu tiên vào mùa xuân năm 1963 ở Carnegie Hall khi anh trình tấu bản Violin concerto số 1 giọng Pha thăng thứ, Op. 14 của Henryk Wienniawski. Năm sau đó, nghệ sỹ violin trẻ Itzhak Perlman tham gia Leventritt Competition, một cuộc thi danh tiếng ở New York (cuộc thi này cũng đã từng đem lại thành công bước đầu trong sự nghiệp của Van Cliburn và Pinchas Zukerman) và giành giải nhất. Có một sự việc đã xảy ra, lúc Perlman ở trong sân khấu sau khi nhận giải thưởng, cây đàn Guarnerius del Gesu do trường Julliard cho anh mượn bị lấy cắp. Về sau, nó được tìm thấy trong một hiệu cầm đồ và được đem trả lại. Sau giải Levintritt, anh đã ký được một hợp đồng với ông bầu nổi tiếng Sol Hurok, thực hiện một chuyến công diễn qua năm mươi thành phố ở Mỹ.
Tháng 1 năm 1965, với tư cách là một nghệ sĩ hàng đầu quốc tế, Perlman trở về Israel và thực hiện tám buổi hòa nhạc với Israel Philharmonic. Những buổi biểu diễn này đã để lại một ấn tượng mạnh mẽ. Sau năm đó, Perlman lại liên tiếp gặt hái những thành công ở New York. Những khán giả ở đây đã từng 5 lần đòi anh biểu diễn “bis” sau khi anh đã hoàn thành phần biểu diễn chính thức của mình.


Kể từ đó, Perlman đã có rất nhiều chương trình biểu diễn với các dàn nhạc lớn, các buổi độc tấu, các liên hoan âm nhạc. Tháng 11 năm 1987, ông cùng với Israel Philharmonic và thực hiện những buổi hoà nhạc lịch sử tại Warsaw và Budapest. Đó là những buổi hoà nhạc đầu tiên của dàn nhạc này tại các quốc gia Đông Âu. Perlman lại một lần nữa làm nên lịch sử khi ông cùng Israel Philharmonic lần đầu tiên đặt chân đến Liên bang Xô Viết vào tháng 4 năm 1990. Họ đã được các khán giả ở Moscow và Leningrad đón chào và ca ngợi nồng nhiệt. Tháng 12 năm đó, Perlman lại đến Nga lần thứ hai để tham gia một chương trình ở Leningrad kỷ niệm 150 năm ngày sinh Tchaikovsky cùng với sự tham gia của Yo-Yo Ma, Jessye Norman, Boris Berezovsky dưới sự chỉ huy của Yuri Temirkanov và Leningrad Philharmonic.
Năm 1991, Perlman nhận một Giải Grammy cho bản thu với hãng EMI Classics bản Violin concerto số 1 giọng La thứ, Op. 99 của Dmitri Shotstakovich và Violin concerto giọng La thứ, Op. 82 của Alexander Glazunov. Ông cũng đã từng thể hiện bản Violin concerto giọng Rê thứ, Op. 47 rất khó của Jean Sibelius với một sự bộc lộ tài năng hiếm có và kĩ thuật hoàn hảo. Về buổi biểu diễn của Perlman, nhà phê bình Howard Klein của Thời báo New York đã viết: “… thực sự là một nghệ sỹ violin nhạy cảm… những nốt nhạc thật lớn lao trong sự ấm áp, đầy rộn ràng sôi nổi và cũng cực kì chính xác… hãy nghe Perlman diễn tả niềm vui ở mọi cấp bậc của kĩ thuật, âm nhạc và trên tất cả là cảm xúc con người. Người nghệ sĩ trẻ này có một thứ có thể đưa âm nhạc vượt lên trên mọi kĩ thuật, đó là trái tim.”
Trong suốt ba thập kỉ, Itzhak Perlman đã có được một sự nghiệp xuất sắc của một nghệ sĩ violin được yêu thích nhất và nổi tiếng nhất trên các sân khấu hòa nhạc. Ông đã thu âm hầu hết những tác phẩm lớn viết cho đàn violin, bổ sung vào kho tư liệu biểu diễn thể loại concerto. Ông đã tham gia vào nhóm các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới như Pinchas Zukerman, Isaac Stern, Yo-Yo Ma và Vladimir Ashkenazy để thu âm các tác phẩm thính phòng.

Rất nhiều tổ chức và giới truyền thông ngưỡng mộ và trọng vọng Perlman. Các trường Đại học như Havard, Yale, Brandeis Roosevelt, Yeshiva và Hebrew đều đã trao tặng ông những học vị danh dự. Năm 1986, tổng thống Ronald Reagan trao tặng Perlman “Huân chương Tự do”. Tháng 12 năm 2000, Tổng thống Bill Clinton trao cho Perlman “Huân chương Nghệ thuật Quốc gia”. Năm 2003, ông được nhận một giải thưởng Danh dự Trung tâm Kennedy vì những thành tựu biểu diễn nghệ thuật của mình.
Trong suốt mười năm gần đây, Perlman cũng xuất hiện trên bục chỉ huy với cương vị nhạc trưởng, biểu diễn cùng các dàn nhạc Berlin Philharmonic, London Philharmonic, Royal Concertgebouw Orchestra, Israel Philharmonic, Chicago Symphony Orchestra, National Symphony Orchestra, Boston Symphony Orchestra, Los Angeles Philharmonic, San Francisco Symphony Orchestra và New York Philharmonic. Ông vừa kết thúc nhiệm kì làm nhạc trưởng khách mời chính thức của Detroit Symphony Orchestra và là cố vấn âm nhạc của St. Louis Symphony Orchestra trong hai mùa diễn. Trong mùa diễn 2005 – 2006, ông là nghệ sĩ độc tấu trong đêm diễn mở màn của các dàn nhạc Detroit Symphony Orchestra, Chicago Symphony Orchestra và National Symphony Orchestra. Ông cũng thực hiện lưu diễn ở bờ biển tây cùng National Symphony Orchestra, song tấu (duo) với Pinchas Zukerman ở New York, Chicago, Boston, Washington DC, Philadelphia, Cleveland và Miami.
Bên cạnh đó, Itzhak Perlman còn chứng tỏ mình sở hữu một giọng bass không hề tồi khi ông tham gia một vai nhỏ trong bản thu âm vở opera “Tosca” của Giacomo Pucini do EMI thực hiện với sự tham gia của Placido Domingo, Renata Scotto, Renato Bruson và nhạc trưởng James Levine cùng Philharmonia Orchestra.
Là một nhân vật chính trong các buổi biểu diễn nghệ thuật trên truyền hình, Itzhak Perlman đã được trao tặng bốn Giải Emmy, gần đây nhất là cho chương trình tư liệu Nghệ thuật Vĩ cầm cho Tương lai của Dịch vụ Truyền hình Công cộng (PBS – Public Broadcasting Service). Sự xuất hiện gần đây nhất của Perlman trên PBS ở Thượng Hải đã để lại một dấu ấn lịch sử không thể nào quên cho chuyến thăm của Chương trình Âm nhạc Perlman tới Trung Quốc. Ông cũng cộng tác như một nghệ sĩ độc tấu violin cho phần nhạc của nhà soạn nhạc John Williams trong bộ phim “Danh sách của Schindler” (đạo diễn Steven Spielberg), một bộ phim được trao Giải thưởng Hàn lâm.
Perlman thu âm rất nhiều tác phẩm với Sony Classical, ông cộng tác các nghệ sĩ lừng danh như Issac Stern, Daniel Barenboim và các nhạc trưởng Zubin Mehta hay Seiji Ozawa. Những bản thu âm của Perlman vẫn thường là những bản thu bán chạy nhất và đã nhận tới 15 Giải Grammy. Gần đây ông có thu âm một số tác phẩm của Wolfgang Amadeus Mozart với Berlin Philharmonic (EMI Classics), vừa là nhạc trưởng vừa là người độc tấu. Hãng Deutsche Grammophon cũng vừa thực hiện một bản thu âm Perlman chỉ huy Israel Philharmonic.
Perlman dành một thời gian đáng kể cho giáo dục đào tạo. Ông vừa tham gia vào các lớp học mùa hè trong Chương trình Âm nhạc Perlman vừa giảng dạy ở trường Juilliard. Perlman được tặng học vị tiến sĩ danh dự và huân chương thế kỉ trong dịp kỉ niệm 100 năm trường Juilliard vào tháng 5 năm 2005.
Perlman đã luôn muốn dùng thành công của mình để minh chứng và cho tương lai tốt đẹp của âm nhạc cổ điển. Ông từng nói: “Tôi coi số tiền thu được trong Chương trình Âm nhạc Perlman như một thách thức và như một cách để tạo ra các cơ hội cho những ai quan tâm đến tương lai của âm nhạc cổ điển.”
Perlman đã vượt qua được những mối quan hệ truyền thống của giới nhạc công. Ông là nghệ sĩ biểu diễn, là người phát ngôn, là thầy dạy, cộng sự và là bạn của vô số những nhạc công trẻ tuổi. Perlman cũng đã có những lời khuyên quý báu dành cho những nghệ sĩ trẻ: “Đối với những người có tài năng thực sự, điều mà bạn không nói sẽ trở nên cực kì quan trọng. Bạn phải suy nghĩ về những điều nên nói và không nên nói và điều đó khiến tài năng của bạn phát triển”.
Người ta đã kể nhiều và có lẽ còn kể mãi một câu chuyện cảm động về ông. Ngày 18 tháng 11 năm 1995, Itzhak Perlman bước lên sân khấu trong Hội trường Avery Fisher tại Trung tâm Lincoln, thành phố New York. Nếu như bạn đã từng xem Perlman biểu diễn thì bạn cũng sẽ biết rằng, ngay cả việc bước lên sân khấu cũng là một cố gắng lớn đối với ông. Perlman bị bại liệt từ nhỏ, ông thường phải đi lại rất khó khăn với một đôi nạng. Ông bước từng bước một lên sân khấu, đau đớn và chậm chạp. Ông ngồi xuống ghế, từ từ đặt đôi nạng xuống sàn, gỡ những chiếc kẹp khỏi ống quần, duỗi một chân ra trước và một chân ra sau. Ông cúi xuống, cầm lấy cây đàn violin, hất đầu ra hiệu cho nhạc trưởng và bắt đầu chơi. Khán giả đều đã quen với cảnh ấy. Họ ngồi chờ đợi một cách yên lặng trong lúc ông bước khó nhọc lên ghế ngồi trên sân khấu. Họ chờ ông gỡ những chiếc cặp khỏi ống quần. Họ chờ cho đến lúc ông sẵn sàng chơi nhạc. Nhưng lần này, có một điều không may đã xảy ra. Khi ông chỉ vừa mới kết thúc vài ô nhịp, một âm thanh vang lên trong phòng hòa nhạc một cách đầy hụt hẫng, một dây đàn của ông bỗng nhiên bị đứt. Mọi người nghĩ thầm, đầy cảm thông với Perlman: “Thế là ông ấy sẽ lại phải đứng dậy, cài lại ống quần, bước qua sân khấu để tìm một cái đàn khác hoặc thay một dây khác.” Nhưng Perlman đã không làm như vậy. Thay vào đó, ông chờ một lát, nhắm mắt lại sau đó ra hiệu cho nhạc trưởng bắt đầu lại. Dàn nhạc lại tiếp tục và ông đã chơi từ đúng chỗ mà ông đã bỏ dở. Ông đã chơi với một niềm say mê, một sức mạnh, một sự thuần khiết khôn tả mà khán giả chưa bao giờ từng được nghe. Dĩ nhiên, ai cũng nghĩ rằng, chơi một tác phẩm giao hưởng chỉ với ba dây là điều không thể. Nhưng đêm ấy, Perlman đã không muốn nghĩ như thế. Không biết ông đã phải điều chỉnh những dây đàn và cây vĩ với một khả năng thiên tài tới mức nào. Có những lúc, ông đã làm cho ba dây đàn còn lại phát ra những âm thanh mà trước đó người ta chưa từng được nghe. Khi tác phẩm kết thúc, đã có một sự im lặng diệu kỳ trong nhà hát. Rồi đột nhiên, mọi người đứng dậy và vỗ tay. Tiếng vỗ tay và tiếng cổ vũ vang dội khắp nơi trong nhà hát. Những khán giả đã làm tất cả mọi điều để thể hiện lòng cảm kích vô bờ bến của họ đối với Perlman. Ông đã mỉm cười, đưa tay khẽ gạt mồ hôi trên trán rồi dùng vĩ ra hiệu mọi người ngừng lại. Ông nói với mọi người bằng một giọng trầm ngâm và đầy vẻ tôn kính: “Các bạn biết đấy, đôi khi nhiệm vụ của một người nghệ sĩ là khám phá ra anh vẫn có thể làm được nhiều tới mức nào cho âm nhạc chỉ với những thứ mà anh còn trong tay.” 

Trần Trung

(Tuw Chowi Cầu Dakbla sưu tầm)

ĐỌC THÊM

CÂY VĨ CẦM BA DÂY

Itzak Perlman

Nhiều người trong chúng ta hẳn chưa biết câu chuyện về buổi hòa nhạc ngày 18 tháng 11 năm 1995 ở Lincoln Center của Itzhak Perlman, nghệ sĩ đàn violon. Nếu như bạn biết ông, bạn cũng sẽ biết ngay cả việc bước lên bục sân khấu đối với ông cũng là một cố gắng lớn. Itzhak Perlman bị bệnh bại liệt từ nhỏ. Với hai chân liệt hẳn, ông phải chống nạng dò từng bước một lên sân khấu. Nhìn ông bước lên sân khấu là cả một cảnh tượng: ông bước từng bước một, đau đớn một cách vương giả, cho đến khi ông lần tới được chiếc ghế của ông. Sau đó ông ngồi xuống, từ tốn, đặt đôi nạng xuống sàn, bỏ những chiếc kẹp khỏi ống quần, gập một chân lên trước và duỗi một chân ra phía sau. Rồi ông cúi xuống, cầm lấy chiếc đàn violon, hất đầu ra hiệu cho nhạc trưởng và bắt đầu chơi nhạc.

Khán giả đã quen với cảnh tượng ấy. Họ ngồi chờ đợi một cách yên lặng  khi ông lần bước qua sân khấu. Họ chờ ông tháo bỏ những chiếc cặp khỏi ống quần. Họ chờ tới khi ông sẵn sàng chơi nhạc.

Nhưng lần này, có cái gì đó không hay đã xảy ra. Ngay sau khi ông vừa chơi được mấy nốt nhạc đầu, một dây đàn đứt phựt. Bạn có thể nghe âm thanh đó vang trong phòng hòa nhạc. Không thể nhầm lẫn về âm thanh ấy, không thể nhầm lẫn điều mà Itzhak Perlman sẽ phải làm.

Mọi ngưòi thầm nghĩ “Tội nghiệp Itzhak Perlman. Ông ấy sẽ phải đứng dậy, cài lại ống quần, lấy đôi nạng, đi qua sân khấu để thay dây đàn hoặc lấy một cây violon mới”

Nhưng Itzhak Perlman không làm vậy. Thay vào đó, ông chờ một giây, nhắm mắt lại và sau đó ra hiệu cho nhạc trưởng bắt đầu lại. Dàn nhạc chơi tiếp, và ông bắt đầu chơi lại từ đúng chỗ mà ông bỏ dở. Và ông chơi với một sức mạnh, một cảm xúc, một sự trong sáng tuyệt vời mà khán giả chưa bao giờ từng được nghe.

Tất nhiên, ai cũng biết không thể chơi một bản nhạc chỉ với ba dây đàn. Tôi biết điều đó, bạn biết điều đó. Nhưng đêm ấy,  Itzhak Perlman từ chối biết điều đó. Bạn có thể hình dung ông đang sửa, chỉnh với một tốc độ như thế nào trong đầu. Có những thời điểm, ông khiến cho những dây còn lại của cây đàn phát ra những âm thanh mà khán giả chưa biết đến bao giờ.

Khi bản giao hưởng kết thúc, một sự im lặng kỳ diệu tràn ngập gian phòng. Sau đó tất cả đứng cả dậy và vỗ tay vang dội. Tiếng vỗ tay tràn ngập tất cả các góc của phòng hòa nhạc, mọi người vỗ tay, gào thét, làm tất cả những cử chỉ mà họ có thể làm để khiến Itzhak Perlman hiểu họ biết ơn ông thế nào về điều kỳ diệu ông đã làm tối hôm đó.

Ông mỉm cười, gạt mồ hôi trên trán, sau đó ông nói khe khẽ, trầm ngâm và sùng kính: “Các bạn biết đấy, đôi khi nghĩa vụ của một nghệ sĩ là khám phá ra anh có thể làm gì  cho âm nhạc chỉ với những thứ anh có.”

 Và phải chăng điều kỳ diệu đó chính là cuộc sống, và nó đúng không chỉ với Itzhak Perlman và các khán giả trong cái đêm tháng 11 lạnh lẽo đó ở New York. Nó đúng với tất cả chúng ta, những người làm nghệ thuật. Cây đàn violon vốn có bốn dây, nhưng chỉ đến khi nó còn có ba dây, người nghệ sĩ thực thụ mới cảm thấy còn biết bao sức mạnh tiềm ẩn trong ba dây đàn mà anh chưa khám phá được. Chúng ta đang sống trong thời đại của Internet, của những phương thức biểu hiện mới. Các họa sĩ trẻ hăm hở với những cuộc biểu diễn sắp đặt, trình bày. Các nhà thơ trẻ đòi chôn cất “Thơ Mới”. Tất cả những điều đó đều rất đáng mừng. Nhưng đã có mấy người trong số họ chịu suy nghĩ họ sẽ làm gì với một chiếc đàn violon có ba dây trong một đêm hòa nhạc? 


 

 Trong một bài viết gần đây, nhà văn Nguyễn Quốc Trụ có nhắc tới “xưởng văn chương tiềm năng” Oulipo của hai nhà văn Pháp Raymond Queneau và Francois Le Lionnais. Xưởng văn chương thử nghiệm này đã sản sinh ra cho nước Pháp và văn học thế giới những tài năng lớn như Queneau, Le Lionnais, Roussel, Roublaud, Perec, Calvino. Những thử nghiệm của họ hướng tới những cải cách tân kỳ, đem áp dụng toán học, logic học, vật lý học vào để “nhào nặn và tái sắp xếp” hiện thực (như Calvino “xây dựng lớp lang một cuốn sách theo những hình vuông Greimas”). Nhưng cái quan trọng hơn, đó là ý thức “cưỡng ép hệ thống” của họ khi sáng tác một tác phẩm văn học. Georges Perec viết một cuốn tiểu thuyết không có nguyên âm “e”…hoàn toàn không phải là ý muốn chơi trội. Ðó chính là cái cách ông “cưỡng ép hệ thống”-hay là tự dứt đứt đi một dây trên chiếc đàn violon của mình để bắt buộc mình tìm kiếm những cách diễn đạt hoàn toàn mới mẻ. Xưởng văn chương tiềm năng này là công xưởng của những lề luật mới, của sự gò bó. Các nhà văn muốn chính sự gò bó này là cú huých thúc đẩy cảm hứng sáng tạo của nhà văn. Một thành viên của nhóm nói “văn chương không có chỗ cho sự ngẫu nhiên”. Nếu đợi cho tới lúc Nàng Thơ gõ cửa, chắc nhà văn đã kịp chết già. Khi đối diện với một sự gò bó, nhà văn có hai lựa chọn: hoặc tuân theo nó hoặc chống lại nó. Nhưng ngay thái độ tuân phục cũng là tuân phục một cách gò bó, bởi sự tuân phục này khiến anh phải chống lại các giá trị văn hoá tự thân mà anh đang có. Cả hai phản ứng này đều thúc đẩy người nghệ sĩ sáng tạo. Nhưng một sự “gò bó” chỉ có giá trị khi nó là một sự gò bó thực sự- giống như chiếc dằm cắm chặt vào kẽ chân của chú ngựa đua. Một khi sự gò bó đó đã biến thành khuôn mẫu, thành một thói quen, thì khi đó nó không còn giá trị nữa, và xưởng văn chương tiềm năng này lại phải “sản xuất” ra cho nhà văn một “bà cô nhức răng” khác. Thơ Mới thực sự khởi sắc khi nó tuyên chiến với những niêm luật khắt khe của thơ cũ, dù đã có lúc chính niêm luật khắt khe đó đã sản sinh ra những bài Ðường thi bất hủ. Khi đạt được sự tự do mà nó muốn có, Thơ Mới mất đi cái“sức chống lại” đã từng là động lực cho sự phát triển của nó. Và khi đó, sau một giai đoạn thịnh trị, không có gì ngạc nhiên khi nó lâm vào ngũ cụt. Sức cản chính của văn học Việt nam hiện nay, lạ lùng thay, lại ở chỗ chúng ta không nhìn thấy sức cản ở đâu. 


 

 Nhiều nhà phê bình hội họa sẽ còn tốn thời gian và giấy bút tán tụng cho “thời kỳ lam”, “thời kỳ nâu” của Bùi Xuân Phái. Họ không biết rằng, những bức tranh phố cổ tuyệt đẹp dùng toàn nâu hay lam của ông có một lý do rất đơn giản: vào những năm khó khăn đó của thời kỳ bao cấp, có những lúc, cửa hàng của Hội Mỹ thuật tại 51 Trần Hưng Ðạo chỉ có mầu lam hay mầu nâu để bán cho các hội viên. Còn rất nhiều những thách thức ngẫu nhiên khác đã khiến cho kho tàng văn học thế giới phong phú lên nhiều. Nếu Tào Thực không bị bắt buộc phải làm thơ trong bẩy bước, O’Henry không phải chứng minh ông có thể viết một truyện ngắn về tờ thực đơn ông cầm trên tay, Tchekhov không sẵn sàng viết về bao thuốc lá nếu được yêu cầu…hẳn chúng ta đã thiếu đi một bài thơ “que đậu nấu hạt đậu”, một “Tờ thực đơn”…Những thách thức đó, tuy vậy, vẫn chỉ là những thách thức ngẫu nhiên. Một người viết nên luôn có ý thức có một “xưởng văn học tiềm năng” trong đầu, một loại công xưởng không ngừng tự sản xuất cho mình những thách thức mới-chống lại những công thức đã cũ, hoặc chống lại chính ý nghĩ rằng những công thức đó đã cũ. Giống như con bò tót ngang bướng, nhà văn lì lợm húc đầu vào bức màn đỏ chống lại ý nghĩ rằng trên đời có những thứ gọi là “không thể”
 

Thứ “không thể” thứ nhất chính là chiếc hộp bé xíu mà có người gọi là “cái thế giới-được-gọi-là-của-chúng-ta”, cái thế giới thường nhật tẻ nhạt trong đó có anh có tôi.  Hãy thứ trao cho mình một con mắt vượt ra ngoài thế giới ấy, thử thách thức những định luật vật lý về không gian và thời gian mà chúng ta hằng tin, bạn sẽ thấy thế giới đó sẽ thực sự biến đổi trong sáng tạo của chúng ta, để người đọc chúng còn có thể than tiếc cho “cuốn sách thì ngắn mà cuộc đời dài quá”. Hoặc ngược lại, bạn hãy chứng minh rằng thế giới này không hề tẻ nhạt như vậy, rằng  mỗi giây phút trôi qua đều chứa đựng trong nó bao nhiêu câu chuyện chưa từng được khám phá.

Thứ “không thể” thứ hai, là ý nghĩ mọi hình thức có thể sáng tạo đã được sáng tạo. Toàn những chuyện “thuần tuý hình thức”- ai đó có thể bĩu môi phán vậy! Ðúng thế, nhà văn chúng ta đã quen chơi trò Ðấng Sáng tạo với quyền sinh quyền sát trong tay, nay hãy tưởng tượng đến việc chính chúng ta bị ném vào một thế giới qui ước, trở thành những con rối trong tay những thế lực siêu phàm có tên gọi là hình thức đó. Người nghệ sĩ thực thụ là người  không chấp nhận ý nghĩ có thể “cũ người” nhưng vẫn “mới ta“. Ðập vỡ một thế giới không có gì là khó, nhưng để xây dựng nên một thế giới khác, anh không thể không tạo ra những lề luật, những mô hình mới, những cấu trúc mới. Một trí tưởng tượng phong phú của những năm năm mươi của thế kỷ trước sẽ hình dung ra một thế giới văn chương trong đó tiểu thuyết không có nhân vật, không có cốt truyện, truyện ngắn không có kết thúc, thơ không có vần, thời gian của truyện không có khởi đầu và không có kết thúc. Một trí tưởng tượng khác của cuối thế kỷ XX sẽ đưa nhà văn đến một thế giới văn chương ở đó tiểu thuyết có thể đọc từ hai phía, từ trang đầu tới trang cuối và từ trang cuối tới trang đầu, trở thành hai câu chuyện khác nhau; hay những cuốn tiểu thuyết được viết dưới dạng mục từ trong cuốn từ điển của một chủng tộc đã bị tiêu diệt, hoặc dưới hình dạng của những lá bài…vv và vv. Vậy đâu là thế giới văn chương của thế kỷ XXI? Liệu nhà văn Việt nam có dũng cảm đưa ra câu trả lời hay mãi mãi chỉ là kẻ theo đuôi? 
 

 Thách thức thứ ba còn khó vượt qua hơn nhiều. Ðó là làm nên những điều kỳ diệu từ cái mà anh đang có, chứ không phải là những cái mà anh ta tưởng là đang có. Con người có thể rất mạnh mẽ khi được trang bị những phương tiện hiện đại, nhưng hãy ném anh ta lên một hoang đảo với một bao diêm, ta sẽ xem anh ta có thực sự mạnh để dựng lên một mái ấm khiến anh ta có khả năng tồn tại. Hãy lấy đi thanh kiếm trên tay kiếm sĩ và hãy xem cái cách anh ta chiến đấu chống lại kẻ địch. Hãy thử bắt đầu việc sáng tác một bài thơ bằng việc nghĩ xem liệu ta có thể làm một bài thơ hay mà không có tất cả những kỹ thuật, những hình thức mà ta quen có. Hãy thử sống trong một thế giới với những cây vĩ cầm chỉ có ba dây.

 Những người ham đọc kiếm hiệp đều biết chuyện những “cao thủ võ lâm” thành danh cuối đời sợ nhất chuyện “lâm vào cảnh tịch mịch, phát phiền mà chết”. Hình ảnh mới nghe qua có vẻ thơ mộng về những nhà văn “trăn trở trước trang giấy trắng” chính là cõi “tịch mịch” của một cuộc sống sáng tạo không tự tạo cho mình những thách thức, thiếu đi những lực cản thực sự để anh phải vượt qua. Cuộc sống “tịch mịch” trưởng giả ấy, chẳng mấy chốc sẽ biến thành “pháp trường trắng” xuống đao khai tử đời sống sáng tác của bất cứ “cao thủ” nào trong làng văn chương.

Nguyễn Thanh Sơn

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.